Thứ Tư, 18 tháng 9, 2013

8 LOẠI THỰC PHẨM TUYỆT VỜI NGỪA LÃO HÓA

Dâu, bơ, tỏi, rau xanh đậm lá, rượu vàng đỏ... được xem là những thực phẩm có công dụng ngăn ngừa lão hóa hiệu quả, theo MindBodyGreen.
1. Các loại dâu

Ảnh minh họa

Đây là loại trái cây được nhiều người yêu thích. Những quả mọng này còn là nguồn cung cấp dồi dào chất chống oxy hóa, giúp tăng cường sức khỏe cho các tế bào và bảo vệ cơ thể chống lại bệnh tật.
2. Bơ

Bơ cung cấp cho cơ thể một lượng đáng kể vitamin E, kali và chất chống oxy hoá.
3. Tỏi

Ảnh minh họa

Tỏi có khả năng làm giảm cholesterol và huyết áp, đồng thời giúp tăng cường hệ miễn dịch của cơ thể. Đây cũng là loại thực phẩm tăng cường sức đề kháng với virus và vi khuẩn gây bệnh, làm giảm sự phát triển và lây lan của các tế bào ung thư.
4. Yến mạch, gạo lứt

Yến mạch, gạo lứt là nguồn cung cấp chất xơ tuyệt vời, giúp đường ruột được thông thoáng và loại bỏ chất độc ra khỏi cơ thể. Ngũ cốc nguyên hạt cũng có thể làm giảm nguy cơ mắc bệnh tim, đột quỵ và tiểu đường.
5. Rau xanh đậm

Các loại rau có lá xanh đậm chứa nhiều chất chống oxy hóa chống lại các gốc tự do, nguyên nhân gây ra lão hóa sớm. Đặc biệt, cải bina (cải bó xôi) và cải xoăn có thể bảo vệ cơ thể khỏi ảnh hưởng tiêu cực của tia UV.

Ảnh minh họa

Có thể bạn không tin nhưng một ly rượu vang đỏ hoàn toàn có khả năng bảo vệ tim khỏi những bệnh tật. Trong rượu vang đỏ có chứa chất chống oxy hóa tuyệt vời gọi là resveratrol, có tác dụng chống đông máu. Nếu bạn không không thích uống rượu, cũng có thể sử dụng resveratrol ở dạng thuốc bổ sung.
7. Các loại hạt

Trong các loại hạt chứa rất nhiều protein, omega 3, vitamin E và canxi.
8. Đậu

Ảnh minh họa
Đây là thực phẩm rất dồi dào chất chống oxy hóa và khoáng chất quan trọng đối với sức khỏe. Bởi vì đậu rất ít chất béo nhưng lại giàu chất xơ, bạn chắc chắn sẽ không muốn bỏ lỡ loại thực phẩm tuyệt vời này.

NHỮNG TRÁI CÂY GIẢM NGUY CƠ TIỂU ĐƯỜNG TUÝP 2

Dâu tây, cam, đào, mận và mơ không có tác dụng đáng kể ngăn bệnh tiểu đường type 2. Trong khi đó việt quất, nho, táo và bưởi giảm đáng kể khả năng mắc bệnh. Nước trái cây đóng hộp không thay thế tốt vai trò này.

Sử dụng dữ liệu từ ba nghiên cứu y tế lớn, các nhà nghiên cứu đã theo dõi chế độ ăn uống trong khoảng thời gian 12 năm ở hơn 185.000 người, trong đó có hơn 12.000 bệnh nhân tiểu đường type 2.

Ảnh minh họa
Sau khi kiểm soát sức khỏe và yếu tố hành vi, các nhà nghiên cứu phát hiện các loại trái cây như: nho, táo và bưởi giảm đáng kể khả năng mắc bệnh.

Vị trí quán quân ngăn ngừa tiểu đường là quả việt quất (loại quả màu tím đậm, mọng nước, trồng nhiều vùng ôn đới). Ăn quả việt quất 3-5 lần, với lượng phù hợp trong một tháng giảm nguy cơ tiểu đường type 2 tới 11% đến 26%. Việc thay thế nước ép trái cây đóng hộp cho toàn bộ trái cây tươi làm tăng đáng kể nguy cơ mắc bệnh.

"Thường xuyên ăn trái cây, đặc biệt là quả việt quất, táo và nho là rất quan trọng. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa các loại quả như việt quất là thuốc tiên mà cần thực hiện chế độ ăn uống lành mạnh, tập thể dục đều đặn để cơ thể khỏe mạnh", tiến sĩ Qi Sun, làm việc tại ĐH Harvard, tác giả chính của nghiên cứu chia sẻ.





NƯỚC CAM CÓ THỂ CHỐNG UNG THƯ


Các nhà khoa học mới đây đã công bố kết quả nghiên cứu tác dụng chống ung thư của nước cam. Nó có thể làm giảm nguy cơ mắc bệnh bạch cầu ở trẻ em, chống lại ung thư vú và ung thư ruột kết ở người trưởng thành.
Nước cam có nhiều tác dụng tích cực đến ung thư. Nó chứa các chất thuộc nhóm flavonoid như hesperitin và naringinin. Những nghiên cứu trong phòng thí nghiệm đã chỉ ra rằng nước cam làm giảm bệnh bạch cầu ở trẻ em, cũng như chống lại bệnh ung thư vú, ung thư gan và ruột kết.

Nước cam có thể chống ung thư
Nước cam có thể làm giảm nguy cơ mắc bệnh bạch cầu ở trẻ em, chống lại ung thư vú, gan và ung thư ruột kết. 
Tác dụng sinh học của nước cam trong nghiên cứu ở phòng thí nghiệm chủ yếu bị ảnh hưởng bởi thành phần, trong khi thành phần lại phụ thuộc vào điều kiện như khí hậu, đất, phương pháp thu hoạch, lưu trữ trái cây…
Tuy nhiên, nếu sử dụng quá nhiều thì nước cam sẽ thể hiện độc tính, đặc biệt với trẻ em. Nó có thể làm tăng huyết áp, gây tổn thương thận và bệnh tiểu đường, làm tăng nồng độ kali trong máu và có thể gây ra dị ứng thực phẩm và làm bùng phát vi khuẩn nếu nước cam chưa được tiệt trùng.
“Sử dụng quá nhiều một loại thực phẩm, ngay cả khi nó là thực phẩm an toàn cũng có thể gây mất cân bằng trạng thái oxy hóa”, các nhà nghiên cứu cảnh báo.
Hiện các nhà nghiên cứu đang tiếp tục nghiên cứu sâu hơn mối liên kết sinh học giữa nước cam và khả năng chống ung thư. Họ đang tìm hiểu chi tiết về loại giống cây trồng cũng liều lượng nước cam phù hợp cho người sử dụng.
Nhiều nghiên cứu khác đã chứng tỏ hiệu quả phòng chống ung thư của nước cam, nó chứa các chất chống oxy hóa như antimutagenic, antingenotoxic, cytoprotective và nội tiết tố. Nước cam cũng có tác dụng kháng khuẩn, kháng virut và điều chỉnh sự hấp thụ xenobiotics – là những chất lạ không cần thiết cho cơ thể.

CÔ GÁI MẮC BỆNH KỲ LẠ: KHÔNG BAO GIỜ BIẾT ĐAU

Một cô gái không thể cảm nhận sự đau đớn, đã thôi thúc các nhà khoa học tìm hiểu về một đột biến gene ảnh hưởng đến cách chúng ta nhận biết về cơn đau.

Các nhà nghiên cứu Đức đã so sánh chuỗi gene của cô gái mắc chứng "vô cảm bẩm sinh với sự đau đớn" với các chuỗi gen của bố mẹ cô, những người không hề bị bệnh này.

Do mắc bệnh hiếm gặp, nữ bệnh nhân (hiện vẫn được giữ kín danh tính) có thể cảm nhận những đụng chạm, nhưng không nhận biết được sự đau đớn. Vì vậy, cô dễ tự làm bỏng mình, do không nhận biết thứ gì quá nóng, không nên chạm vào và thường xuyên bị tổn thương.

Theo báo New Scientist, việc so sánh chuỗi gene đã giúp tiến sĩ Ingo Kurth thuộc Bệnh viện Đại học Jena (Đức) phát hiện một đột biến ở gene SCN11A, vốn có ảnh hưởng đến việc xây dựng các kênh truyền dẫn tín hiệu trên những tế bào thần kinh cảm nhận sự đau đớn. Đột biến ở gene SCN11A đồng nghĩa, phương tiện truyền tải xung điện cần thiết của các tế bào thần kinh không thể hình thành, khiến cơ thể không thể phát hiện ra sự đau đớn.

Cô gái mắc chứng "vô cảm bẩm sinh với sự đau đớn" (CIP) dễ tự làm tổn thương bản thân, đặc biệt là bỏng, hoặc không nhận biết được việc mình đang bị viêm nhiễm hoặc thương tổn.

Để đảm bảo những hoài nghi của mình là chính xác, ông Kurth và các cộng sự đã gây giống chuột bị đột biến gene SCN11A và thử nghiệm khả năng phát hiện cơn đau của chúng. Họ nhận thấy, những con chuột này nhiều khả năng bị thương hơn các cá thể cùng loài bình thường. Chúng cũng có phản ứng chậm hơn nhiều với cơn đau khi đuôi bị cho tiếp xúc với nguồn sáng nóng bỏng. Tất cả ám chỉ, những con vật này không có khả năng nhận biết sự đau đớn.

Các nhà khoa học hy vọng, khám phá trên có thể dẫn tới sự ra đời của những loại thuộc giảm đau mới, phát huy tác dụng bằng cách ngăn chặn mọi tín hiệu của sự đau đớn. Họ hiện đã bắt đầu nghiên cứu về một loại dược phẩm vô hiệu hóa đột biến gene SCN11A.

Chứng "vô cảm bẩm sinh với sự đau đớn" (CIP) là một căn bệnh vô cùng hiếm gặp, cho đến nay y học thế giới mới ghi nhận khoảng 20 trường hợp người mắc bệnh này.

CIP khiến người mắc phải không thể cảm nhận được sự đau đớn, dù vẫn nhận biết được các đụng chạm. Điều này trên thực tế rất nguy hiểm, do đôi khi bệnh nhân tự làm tổn thương bản thân như cắn vào lợi, dao cứa vào tay hay bị sốt quá nóng mà không cảm thấy gì. Họ có thể không phát hiện bản thân bị các viêm nhiễm hoặc thương tổn, khiến tình trạng trở nên nghiêm trọng nếu không được chữa trị kịp thời.

Bệnh CIP có thể do một đột biến gene gây ra, nhưng cũng có thể bắt nguồn từ việc bộ não sản sinh quá nhiều hoóc môn gây hưng phấn endorphin.



Thứ Hai, 12 tháng 8, 2013

CẢNH GIÁC VỚI NGUYÊN NHÂN UNG THƯ


Bệnh ung thư hình thành do các tế bào bất thường phát triển nhanh. Thông thường, cơ thể sẽ thay thế các tế bào già cỗi bằng tế bào mới, nhưng các tế bào ung thư lại phát triển quá nhanh.
Tác nhân sinh học gây bệnh ung thư

Tác nhân sinh học liên quan đến ung thư chủ yếu là virut. Một vài loại ký sinh trùng và vi khuẩn cũng gây ung thư.
Virut gây ung thư

Virut có thể xâm nhập vào tế bào chủ và gây ung thư. Điều này thấy trong ung thư cổ tử cung, ung thư gan do virut viêm gan B, một số loại ung thư máu, ung thư hạch bạch huyết và ung thư mũi họng. Các loại virut được nghiên cứu đến nhiều nhất gồm:

Virut viêm gan B: Đây là loại virut có thể gây ung thư gan nguyên phát, thường gặp ở châu Phi và châu Á trong đó có Việt Nam. Virut viêm gan B thường lây truyền qua đường truyền máu, dùng chung kim tiêm, mẹ truyền cho con trong thời kỳ mang thai và qua quan hệ tình dục với người nhiễm loại virut này.

Khi xâm nhập cơ thể người, virut này gây viêm gan cấp, có khi chỉ thoáng qua. Sau đó một số người bệnh chuyển thành viêm gan mạn tính không triệu chứng trong nhiều năm. Tổn thương này qua thời gian dài sẽ dẫn đến hai biến chứng là xơ gan toàn bộ và ung thư tế bào gan. Việc khẳng định virut viêm gan B gây ung thư gan là quan trọng, giúp chúng ta có một phương pháp phòng bệnh tốt bằng tiêm chủng chống viêm gan B.

Virut gây u nhú: Virut gây u nhú ở người (HPV) đã được chứng minh là gây ung thư cổ tử cung và liên quan đến các ung thư vùng sinh dục ngoài của nam và nữ đặc biệt là type 16,18. Virut này lây truyền qua đường tình dục là chủ yếu. Hiện nay vaccin phòng chống virut này đã được sản xuất và sẽ sớm được đưa vào tiêm phòng ngừa cho chị em phụ nữ.
Các virut khác

- Virut Epstein-Barr: Virut Epstein-Barr lần đầu tiên có mặt ở bệnh ung thư hàm dưới của trẻ em vùng U-gan-đa. Sau này người ta còn phân lập được virut này ở ung thư vòm mũi họng, loại ung thư khá phổ biến ở vùng ven Thái Bình Dương bao gồm Trung Quốc và một số nước Đông Nam Á trong đó có Việt Nam. Nhiều bệnh nhân ung thư vòm có kháng thể chống kháng nguyên của virut này. Tuy vậy, vai trò gây bệnh trực tiếp của virut chưa được khẳng định chắc chắn vì tỷ lệ nhiễm virut Epstein-Barr trong dân khá cao trong khi chỉ một số bị ung thư vòm.

- Virut bệnh bạch cầu ở người: Đây là loại virut được thấy trong bệnh bạch cầu ở người. Cũng giống như virut Epstein-Barr, người ta chưa khẳng định chắc chắn mối liên quan nhân quả giữa virut và ung thư máu.
Ký sinh trùng và vi khuẩn

Sán Schistosoma là ký sinh trùng được coi là nguyên nhân ung thư bàng quang và một số ít trường hợp ung thư niệu quản. Sán này hay gặp ở châu Phi và Trung Đông.

Vi khuẩn được đề cập đến trong ung thư nhiều nhất là Helicobacter Pylori (HP). Người ta thấy có mối liên quan giữa HP và ung thư dạ dày. Vi khuẩn cũng gây viêm loét dạ dày mạn tính và có thể điều trị bằng kháng sinh.

BIỂU HIỆN CỦA UNG THƯ TUYẾN TIỀN LIỆT


Đôi khi chỉ là những biểu hiệu rất nhỏ nhặt như tiểu đêm, tiểu rắc, hay xuất hiện vệt máu trong nước tiểu...

Cánh XY cần hết sức chú ý để nếu không may còn có cách điều trị sớm nhé!

1. Đi tiểu khó khăn

Biểu hiện như bạn mắc tiểu nhưng không thể đi được hoặc đi mà phải dừng lại đột ngột, cũng có thể là đi tiểu thường xuyên hơn; một dấu hịêu khác là bạn cảm thấy khó dừng lại.

Tuyến tiền liệt bao quanh niệu đạo, vì vậy, đôi khi dù chỉ một khối u rất nhỏ ở vị trí này cũng có thể gây trở ngại khi đi tiểu hoặc xuất tinh.

2. Đau khi đi tiểu

Hiện tượng này có thể do một khối u tuyến tiền liệt ép lên niệu đạo. Tuy nhiên, đau khi đi tiểu cũng là một triệu chứng của nhiễm trùng tuyến tiền liệt, được gọi là viêm tuyến tiền liệt hoặc tăng sản tuyến tiền liệt lành tính (BPH), đó là dạng mở rộng không ung thư của tuyến tiền liệt.

3. Máu trong nước tiểu

Dấu hiệu này ít phổ biến hơn, nhưng cũng không nên chủ quan. Không cần phải ra nhiều máu, đôi khi chỉ là một vết máu hoặc màu hồng nhạt. Một số loại bệnh nhiễm trùng đường tiết niệu có thể gây ra máu trong nước tiểu, nhưng bác sĩ sẽ cần phải thực hiện các xét nghiệm để phân biệt với ung thư tuyến tiền liệt, bởi vậy bạn đừng hãy nhanh chóng đến gặp bác sỹ trong trường hợp này nhé.

4. Khó khăn trong việc duy trì sự cương cứng

Một khối u tuyến tiền liệt có thể ngăn chặn tăng lưu lượng máu đến "cậu nhỏ" để giúp cương cứng, hoặc nó có thể ngăn chặn sự cương cứng trong việc duy trì để xuất tinh.

5. Máu trong tinh dịch

Giống như máu trong nước tiểu, dấu hiệu này thường không được cánh XY chú ý mấy. Nó không phải là một lượng máu lớn, mà nó chỉ đủ để làm cho tinh dịch hơi hồng hoặc có vệt màu.

6. Táo bón mãn tính và các vấn đề đường ruột khác

Tuyến tiền liệt nằm bên dưới bàng quang và trước trực tràng. Do đó, một khối u ở vị trí này có thể gây trở ngại cho chức năng tiêu hóa. Tuy nhiên, đó là một tình huống con gà và quả trứng bởi vì táo bón mãn tính có thể góp phần mở rộng tuyến tiền liệt bằng cách gây áp lực trên tuyến này cũng như ngược lại.

Táo bón mãn tính và các vấn đề đường ruột cũng có thể là một chỉ báo sớm của ung thư ruột kết. Quy tắc chung là, nếu bạn đang bị táo bón hoặc các triệu chứng đường ruột khác không biến mất khi bạn thay đổi chế độ ăn uống thì bạn nên đi khám.

7. Thường xuyên đau ở lưng, hông, đùi trên

Dấu hiệu phổ biến của ung thư tuyến tiền liệt là đau ở lưng, xương chậu và hông khiến bạn thường không giải thích được sự đau đớn. Một cách để phân biệt loại đau với đau thần kinh tọa và đau lưng thấp là nó có thể cảm thấy như một cơn đau âm ỉ. Tuy nhiên, các chuyên gia cho rằng bất kỳ lưng dưới hoặc đau hông mà không rõ nguyên nhân thì đều cần phải đi khám.

8. Tiểu đêm

Đây là một trong các triệu chứng ít ai để ý, chỉ khi XY được chẩn đoán là mắc ung thư tuyến tiền liệt mới nhớ ra. Nếu bạn thấy mình thức dậy nhiều hơn một lần mỗi đêm để tiểu tiện thì cần đi khám sức khỏe ngay nhé.

9. Tiểu rắc

TÁC DỤNG CỦA CÂY MẬT NHÂN


Từ năm 2006 đến nay, các nhà khoa học trường Đại học Dược Hà Nội đã dày công nghiên cứu và tìm ra những công dụng rất hiệu quả đối với nam giới từ cây Mật nhân.

Theo kết quả nghiên cứu, cây Mật nhân ( còn gọi Mật gấu, Bá bệnh hay Mật nhơn) có tác dụng bảo vệ tế bào gan, kích thích sản sinh hormon giới tính nam (testosteron), sinh tinh dịch, nâng cao chất lượng đời sống tình dục một cách tự nhiên, tăng trương lực cơ, tăng hưng phấn và duy trì phong độ tình dục, hỗ trợ điều trị điều trị rối loạn cương dương một cách bền vững, điều trị rối loạn xuất tinh, giảm căng thẳng mệt mỏi.

Rễ của cây Mật nhân có nhiều tác dụng chữa bệnh.

Báo cáo tại hội nghị ISIR Châu Á – Thái Bình Dương cho thấy, có khoảng 190 triệu nam giới tại khu vực này gặp trục trặc về khả năng tình dục, và chỉ khoảng 10 % đến gõ cửa bác sĩ thừa nhận mình có vấn đề bất ổn “nơi ấy”.

Tại Trung tâm Trung tâm Nam khoa-Bệnh viện Việt Đức, các bác sĩ cũng khẳng định, do mải lo chuyện cơm áo gạo tiền, do áp lực công việc nặng nề, nhiều ông chồng mệt mỏi thú nhận rằng ngày càng không thiết tha... “chuyện ấy”. Vì vây, việc nghiên cứu và bào chế ra những loại thuốc từ thảo dược có thể giúp nam giới tăng cường sức khỏe và lấy lại phong độ là cần thiết.

Theo lương y Nguyễn Công Đức, cây Mật nhân thường mọc hoang ở các vùng núi, trong các rừng thưa, dưới tán các cây gỗ lớn ở vùng Tây Nguyên, Trung- Nam bộ như Quảng Tri, Huế, Đà Nẵng, Kon Tum, Gia Lai, Đak Lak, Lâm Đồng, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Đồng Nai, Kiên Giang. Cây thân gỗ, cao 2-8 mét, lá kép, không cuống, mọc đối, mặt trên xanh bóng, mặt dưới trắng mốc. Cuống lá màu nâu đỏ. Cụm hoa hình chùm tán mọc ở ngọn. Hoa và bao hoa phủ đầy lông màu đỏ nâu. Quả hình trứng hơi dẹt, có rãnh giữa, khi chín màu vàng đỏ chứa 1 hạt, trên mặt hạt có nhiều lông ngắn. Mùa hoa quả thu hoạch từ tháng 3 đến tháng 11. Về kinh nghiệm chữa bệnh, dân ta trước đây đã dùng thân cây, rễ cây Mật nhân sắc thuốc hoặc sao vàng để trị khí hư huyết kém, ăn uống không tiêu, đầy hơi, đầy bụng, tức ngực, nghẹn, khó thở, gân xương yếu mỏi, chân tay tê nhức, nôn mửa, tả lỵ, tứ thời cảm mạo, say rượu, tẩy giun, làm thuốc bổ, chữa đau lưng, nhức mỏi, đau bụng kinh của phụ nữ. Quả Mật nhân thì dùng để chữa lỵ, tiêu chảy. Lá thì dùng nấu nước tắm trị ghẻ, lở ngứa.

Sau này qua nghiên cứu, các nhà khoa học Trường Đại học Dược Hà Nội và trên thế giới còn phát hiện thêm tác dụng vượt trội của cây Mật nhân, là khả năng tăng cường sức khoẻ tình dục cho nam giới, kích thích cơ thể tăng tiết hormon giới tính nam (testosteron) một cách tự nhiên. Theo phân tích của các nhà khoa học, cây Mật nhân của Việt Nam có tác dụng không kém, có phần vượt trội so với xuất xứ từ các nước khác. Các nghiên cứu ban đầu cho thấy, cây và rễ cây Mật nhân được thử độc tính, cho thấy cây rất an toàn cho người sử dụng. Để đạt hiệu quả như mong muốn, rễ Mật nhân phải được khai thác, sao vàng hạ thổ đúng cách, đồng thời kết hợp với hạt cây Mật nhân có thể điều trị chứng hiếm muộn nam do loãng tinh trùng (dưới 20 triệu/1ml), tinh trùng yếu.

Ngoài ra. theo các nhà khoa học trường Đại học Dược Hà Nội, bên cạnh tác dụng giúp tăng cường sinh lực nam giới, làm ấm cơ thể, giảm sốt, loại cây quý này còn chứa anxiolytic tác dụng giảm lo lắng, tăng cường hoạt động trí óc. Đặc biệt Mật nhân kết hợp với cây Cà gai leo có tác dụng bảo vệ gan vượt trội và chống xơ gan mạnh. Sự kết hợp này rất hữu ích cho các trường hợp xơ gan, uống nhiều bia rượu vì ngoài tác dụng chống xơ gan mạnh còn có tác dụng phục hồi sức khoẻ sinh lý, vốn là yếu điểm của nam giới mắc chứng xơ gan và uống nhiều bia rượu.

NGUYÊN NHÂN CHỨNG GIẬT MÌNH

 Chúng ta thường bị giật mình khi nghe thấy tiếng động bất thường hoặc gặp sự cố bất ngờ; với một số người, phản ứng giật mình này có thể khiến họ ngã, thậm chí dẫn đến cái chết.


Một phân tử DNA.

Hiện giờ các nhà nghiên cứu tại Vương quốc Anh đã tìm ra nguyên nhân mới cho một chứng rối loạn hiếm gặp- chứng giật mình- có tên khoa học chính thức là hyperekplexia.

Những người mắc chứng giật mình có một phản xạ cực nhạy với sự va chạm và âm thanh, dẫn đến sự co cứng cơ bắp, gây ra các vấn đề về hô hấp, trường hợp nặng sẽ dẫn đến Hội chứng tử vong đột ngột (Sudden Infant Death Syndrome - SIDS).

Căn bệnh bắt đầu với nhiều tế bào gene đột biến, gây ra hậu quả là các tế bào thần kinh thất bại trong việc truyền thông tin đúng cách. Cụ thể là sự đột biến làm ảnh hưởng đến việc di chuyển giữa các tế bào của một phân tử được gọi là glycine.

Thông thường thì glycine gửi những tín hiệu làm giảm phản ứng của cơ thể khi bắt gặp sự đụng chạm hoặc âm thanh bất ngờ. Với những người bị bệnh giật mình, não bộ không nhận được tín hiệu từ glycine và tác động từ âm thanh sẽ bị khuếch đại, gây ra những phản ứng nguy hiểm cho người bệnh.

Trong nghiên cứu mới nhất, các nhà nghiên cứu ở Đại học Cao đẳng London và Đại học Swansea tại xứ Wales đã phân tích thông tin từ 93 bệnh nhân mắc chứng giật mình trên khắp thế giới và tìm ra 19 gene đột biến mới. Tất cả các gene này đều có khả năng mã hóa một phân tử protein có tên gọi GlyT2, có trách nhiệm vận chuyển glycine đến các tế bào.

Nghiên cứu khẳng định chắc chắn rằng GlyT2 là nguyên nhân chính gây ra căn bệnh.

Một nghiên cứu khác cũng cho thấy GlyT2 gây ra 8 trường hợp mắc bệnh giật mình tại vương quốc Anh và Tây Ban Nha. "Nếu các tế bào thần kinh không nhận đủ glycine, chúng cũng sẽ không phát hành đủ glycine. Điều này làm cản trở việc truyền tải các tín hiệu ức chế."Beatriz López-Corcuera - một nhà nghiên cứu tại Đại học Autónoma, Madrid, Tây Ban Nha, người đã thực hiện nghiên cứu thứ hai - nói.

Cả hai nghiên cứu được công bố trực tuyến vào tháng Sáu trên tạp chí Journal of Biological Chemistry.

SỮA ĐẮT CHƯA HẲN ĐÃ TỐT


Mặc dù sữa bột công thức về cơ bản khác với sữa mẹ, nhưng chúng ta đã đạt được một số cải thiện rõ rệt trong vòng 30 năm trở lại đây, bao gồm cả sự điều chỉnh để cải thiện mức cân bằng protein và hỗn hợp pha trộn chất béo.

Nhưng cũng chưa có bằng chứng cụ thể cho thấy các loại sữa công thức tiên tiến thực sự hiệu quả trong việc tăng cường khả năng phát triển ở trẻ sơ sinh, và chắc chắn không thể tốt bằng sữa mẹ tự nhiên.

Các hãng sữa cũng bổ sung thêm một số dòng sữa mới, bao gồm cả loại sữa không có đường (lactose), sữa đặc biệt cho trẻ sinh non và trẻ ốm yếu, còi cọc, sữa công thức thủy phân với protein dễ tiêu hoá cho những bé có vấn đề về hệ tiêu hoá.

Nhiều sản phẩm sữa công thức có giá thành cao vì theo nhà sản xuất, chúng được ứng dụng các công nghệ mới nhất, có khả năng "tạo sự khác biệt".

Nhiều hãng sản xuất gần đây tung ra thị trường các nhãn hàng và dòng sữa được quảng bá là có khả năng "tạo sự khác biệt" bằng việc ứng dụng những công nghệ tiên tiến nhất. Và đây cũng là một trong những lí do đẩy giá thành sản phẩn của họ lên cao.

Tuy nhiên, liệu các ứng dụng công nghệ như vậy vào sữa bột công thức có mang lại hiệu quả vượt trội như quảng cáo và xứng đáng với chi phí phát sinh mà người tiêu dùng phải trả thêm cho những sản phẩm này, so với sữa công thức thông thường?

Bổ sung DHA và ARA

Một phát minh gần đây là sự bổ sung vào sữa công thức hai chuỗi axit béo không bão hoà đa nguyên (polyunsaturated fat) là DHA (docosahexaenoic) và ARA (arachidonic acid). Cả hai axit này đều đóng một vai trò chủ chốt trong quá trình phát triển trí não và theo lý thuyết, sự có mặt của DHA và ARA trong sữa mẹ có thể lý giải tại sao trẻ bú mẹ thường ghi điểm cao hơn trẻ bú sữa công thức trong các bài kiểm tra về phát triển trí não.

Theo tiết lộ của một số hãng sản xuất, DHA đưa vào sữa bột được chiết xuất từ tảo, còn ARA được tinh chế từ nấm. Câu hỏi đặt ra ở đây là, liệu những chất phụ gia này có khiến trẻ uống sữa bột thông minh hơn như quảng cáo hay không.

Sheila Innis, giáo sư chuyên ngành dinh dưỡng nhi khoa tại Đại học British Columbia (Canada), cho biết, các nghiên cứu đã cho kết quả lẫn lộn.

Chuyên gia này khẳng định: “Tôi sẽ rất thận trọng khi đưa ra một phát ngôn như vậy đối với một em bé khoẻ mạnh, sinh đủ ngày, đủ tháng. Ở một nghiên cứu nhỏ, các em bé 18 tháng tuổi uống sữa công thức có bổ sung DHA và ARA đã ghi điểm cao hơn các bé sử dụng sữa công thức bình thường. Tuy nhiên, 4 nghiên cứu lớn hơn khác lại không cho thấy bất kỳ sự khác biệt nào. Bằng chứng rõ ràng hơn nhiều ở trẻ sinh non, những đứa bé vốn sinh ra không có những chất này và một số chất dinh dưỡng khác dự trữ trong cơ thể”.

Bổ sung chất xơ (Prebiotics)

Một cải tiến quan trọng nữa đối với sữa công thức chính là việc bổ sung thêm chất xơ, giúp cung cấp “lương thực” cho hệ vi khuẩn có lợi nằm trong ruột già và ức chế những vi khuẩn có hại nhằm hỗ trợ hệ tiêu hóa của bé phát triển toàn diện.

Chất xơ dưới dạng thức ăn rất dễ nhận biết như các loại rau, củ, quả, … Tuy nhiên, chất xơ trong sữa công thức (hay còn gọi là Prebiotics) chính là hai chất Fructooligosaccharides (gọi tắt là FOS), có nguồn gốc từ thực vật và Galactooligosaccharides (GOS), có nguồn gốc từ động vật. Hai chất này được cho có khả năng giúp hoạt hóa hệ tiêu hóa, đồng thời ức chế các vi khuẩn có hại, không cho chúng “sinh sôi nảy nở”.

Hiện nay, chỉ có một số ít sữa công thức bổ sung những chất trên và các hãng sản xuất coi đây là thế mạnh của họ. Tuy nhiên, việc bổ sung chất xơ vào sữa công thức cũng tiềm ẩn nguy cơ do các hãng sản xuất phải nhập nguồn nguyên liệu, vốn là sản phẩm của công ty khác.


Năm 2012, thị trường từng rúng động trước thông tin sữa bột có thể bị nhiễm khuẩn tiêu chảy từ chất xơ bổ sung. Cụ thể là, ngày 19/7, Trung tâm An toàn thực phẩm của Hồng Kông nhận được cảnh báo của Ủy ban Châu Âu về việc một loại sữa bột cho trẻ nhỏ trên 12 tháng tuổi, được sản xuất tại Hà Lan và xuất khẩu sang Hồng Kông, nghi bị nhiễm vi khuẩn Salmonella từ chất xơ GOS. Cơ quan thẩm quyền của Hà Lan đã phát hiện nguồn chất xơ do Hàn Quốc sản xuất và cung cấp cho nhiều hãng sữa bột trẻ em tại nước này bị nhiễm loại khuẩn gây tiêu chảy.

Bổ sung lợi khuẩn Probiotics và Synbiotics

Một sáng chế gần đây nhất và được ngày càng nhiều nhà sản xuất sữa công thức đưa vào sản phẩm của họ là bổ sung 1 trong 2 chủng lợi khuẩn Probiotics và Synbiotics.

Probiotics là các vi khuẩn sống đã được chứng minh là tốt cho sức khỏe, do chúng giúp cải thiện sự cân bằng của hệ vi khuẩn đường ruột. Probiotics chính là những vi khuẩn tốt, có vai trò tăng cường hệ miễn dịch của cơ thể, giúp cơ thể nâng cao khả năng phòng chống bệnh tật. Trong khi đó, Synbiotics được tạo thành dựa trên sự kết hợp giữa Probiotics và chất xơ (Prebiotics). Việc bổ sung Synbiotics, do đó, sẽ giúp cơ thể hình thành một hệ thống vi khuẩn tốt hùng hậu, khỏe mạnh và hoạt động hiệu quả.

Tuy nhiên, theo tiết lộ của các chuyên gia, điều khó nhất là làm thế nào để “đóng gói” nhưng vi khuẩn sống có lợi cho hệ miễn dịch trên vào hộp sữa và có thể bảo quản chúng trong thời gian 3 năm – như hạn sử dụng thông thường của sữa bột công thức. Các Probiotics và Synbiotics sẽ phải “ngủ yên” trong một thời gian dài, sau đó sẽ được đánh thức và thực hiện nhiệm vụ bảo vệ sức khỏe cho trẻ từ bên trong.

Để thực hiện điều đó, người ta đã phải sử dụng kỹ thuật “làm lạnh khô” (dry freezing). Các chuyên gia hạ thấp nhiệt độ tới một mức hợp lý để vi khuẩn sống rơi vào trạng thái “ngủ”. Ở trạng thái này, vi khuẩn có thể chịu được những thay đổi vật lý như áp suất, nhiệt độ, độ ẩm … đồng thời vẫn duy trì sự sống. Tiếp đó, các nhà sản xuất đưa vi khuẩn sống có lợi ở trạng thái "ngủ" theo tỉ lệ nhất định vào bột sữa.

Toàn bộ quá trình trên, nếu thực hiện thành công, sẽ giúp nâng cao chất lượng sữa công thức. Tuy nhiên, hiệu quả của từng loại sản phẩm sữa bột ứng dụng công nghệ này hiện thường do chính các nhà sản xuất thuê nghiên cứu đánh giá. Hiếm khi có các cơ quan kiểm định chất lượng độc lập tiến hành nghiên cứu và đánh giá về tác dụng thực sự của chúng.

Trong một nghiên cứu độc lập hiếm hoi của các chuyên gia tiêu hóa, dinh dưỡng và nhi khoa Pháp năm 2010, nhóm tác giả phát hiện, trẻ được nuôi bằng sữa bột có bổ sung Probiotics hoặc Synbiotics có tốc độ tăng cân tương tự như những bạn cùng trang lứa uống sữa công thức thông thường. Điều này có nghĩa là, không có sự khác biệt nào về khả năng giúp phát triển cân nặng giữa sữa bột bổ sung lợi khuẩn và sữa bột thông thường.

Một nghiên cứu độc lập nữa của các chuyên gia y tế Nam Phi, được công bố trên tạp chí Nutrition Journal năm 2012, cũng kết luận rằng, hiện không đủ bằng chứng lâm sàng để khẳng định sữa bột bổ sung lợi khuẩn giúp tăng cường sự phát triển ở trẻ sinh non và nhẹ cân được "nuôi bộ" hoàn toàn (tức là chỉ uống sữa công thức, không bú mẹ).

CHÂM CỨU NÉT ĐỘC ĐÁO CỦA Y HỌC VIỆT NAM

Châm cứu - nét độc đáo của y học cổ truyền Việt Nam


Người bệnh được châm cứu điều trị đau cột sống tại Bệnh viện Châm cứu T.Ư.

Bệnh viện Châm cứu T.Ư đang triển khai chuyển giao gói kỹ thuật cao "Châm cứu Việt" cho tuyến y tế cơ sở trong toàn quốc. Gói kỹ thuật cao đó gồm: châm Việt; đai - hộp ngải cứu; thủy châm; bấm huyệt, xông hơi, tắm thuốc và cấy chỉ. Ðây là những phương pháp tiêu biểu, đặc trưng của nền y học cổ truyền Việt Nam đang được ứng dụng hiệu quả trong chăm sóc sức khỏe cho người dân.

Việt Nam được Tổ chức Y tế thế giới đánh giá là một trong năm nước hàng đầu thế giới có hệ thống y học cổ truyền phát triển lâu đời và đóng góp tích cực vào sự nghiệp chăm sóc sức khỏe nhân dân. Riêng lĩnh vực châm cứu, nước ta có lịch sử lâu đời nhất, có tổ chức, thầy thuốc chuyên ngành, biên soạn tài liệu châm cứu sớm nhất trên thế giới. Châm cứu Việt đã có hàng nghìn năm lịch sử, từ thực tiễn đúc rút thành lý luận. Những người thầy thuốc châm cứu tiếp tục phát huy vốn quý đó của y học cổ truyền, kết hợp y học hiện đại xây dựng nền y học có đầy đủ tính chất khoa học, dân tộc, đại chúng.

Châm cứu Việt Nam trong những năm qua liên tục phát triển, có sự kế thừa một cách chọn lọc và nghiên cứu phát triển các phương pháp mới. Hiện nay, châm cứu đang tham gia điều trị có hiệu quả một số chứng bệnh như: Hội chứng stress, tự kỷ - bại não, rối loạn giấc ngủ, thoái hóa, thoát vị đĩa đệm cột sống, cắt cơn đói ma túy... Ðặc trưng lý luận cơ bản của kỹ thuật châm cứu Việt Nam là kỹ thuật châm xuyên kinh, xuyên huyệt. Sự phát triển lý luận phương pháp châm Việt đã được các thầy thuốc nghiên cứu và làm sáng tỏ cơ chế tác dụng qua ba đề tài nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước, sáu đề tài cấp Bộ trong suốt hơn 30 năm qua bằng phương pháp luận nghiên cứu khoa học của y học hiện đại.

Trong gói kỹ thuật cao chuyển cho các địa phương có phương pháp đai - hộp ngải cứu Việt lần đầu tiên được các bác sĩ Bệnh viện Châm cứu T.Ư nghiên cứu thành công, thay thế cho phương pháp cứu ngải cũ (dùng sức nóng của mồi ngải tác động lên huyệt nhằm mục đích chữa bệnh). Phương pháp cứu ngải truyền thống áp dụng với các hình thức cứu bằng điếu ngải, cứu mồi ngải trực tiếp trên huyệt hoặc cứu cách muối, cách lát gừng, cách lát tỏi... Giám đốc BV Châm cứu T.Ư, PGS, TS Nghiêm Hữu Thành cho biết, phương pháp cứu bằng điếu ngải có một số hạn chế như dễ gây bỏng cho người bệnh; thao tác cứu phức tạp, khó thực hiện, mất nhiều thời gian và cần nhiều nhân lực nên ít được sử dụng. Nhằm khắc phục những hạn chế này, từ cuối năm 2012, Bệnh viện Châm cứu T.Ư sáng chế ra đai - hộp ngải cứu Việt với nhiều ưu điểm nổi trội, nâng cao chất lượng điều trị cho người bệnh. Dưới sự hướng dẫn của thầy thuốc, người bệnh còn có thể dễ dàng tự điều trị tại nhà. Ðáng chú ý, hộp ngải cứu này cùng một lúc cứu được từ sáu đến tám, thậm chí 10 huyệt theo yêu cầu biện chứng luận trị của y học cổ truyền, hiệu quả chữa trị nâng lên rõ rệt. Trong khi đó, phương pháp cứu bằng điếu ngải trước đây chỉ cho phép cứu được từng huyệt. Một sự khác biệt nữa là cứu bằng điếu ngải rất dễ gây bỏng nhưng đai ngải hoàn toàn có thể hạn chế được khả năng gây bỏng do duy trì độ nóng ổn định. Các thao tác với đai ngải thực hiện dễ dàng, tăng năng suất, một thầy thuốc cùng lúc có thể cứu cho nhiều người bệnh, nâng cao năng suất đến ba, bốn lần so với phương pháp cứu truyền thống. Nếu như trước đây người bệnh bị liệt mặt chỉ điều trị châm phải mất từ sáu đến tám tuần, nay kết hợp cả châm và cứu chỉ cần bốn đến năm tuần; tương tự đối với người bệnh liệt nửa người, liệu trình điều trị ba tháng chỉ với châm, nay nhờ có cả châm và cứu thời gian điều trị được rút ngắn còn 1,5 đến hai tháng.

Thời gian qua, Bệnh viện Châm cứu T.Ư đã thực hiện ứng dụng châm cứu điều trị và kiểm soát đau cột sống; điều trị và chăm sóc đặc biệt cho người liệt, cho trẻ tự kỷ - bại não. Thời gian tới, bệnh viện sẽ thành lập thêm các đơn vị điều trị châm cứu kết hợp với y học hiện đại chất lượng cao; ứng dụng công nghệ y học mới kết hợp với các phương pháp điều trị bằng đông - tây y nhằm chống đau cho người bệnh; sử dụng khí công xoa bóp bấm huyệt, ẩm thực dưỡng sinh, sử dụng thuốc đông y và các dạng thực phẩm có tác dụng cải thiện giúp nâng cao chất lượng sức khỏe... Ðặc biệt, bệnh viện đang tập trung xây dựng mô hình mới: "Trung tâm kỹ thuật cao - Châm cứu Việt". Các đơn vị châm cứu Việt hoạt động theo quy trình chuyên môn chất lượng cao, kết hợp không gian văn hóa Việt với các nét đặc trưng: Hoa sen, âm nhạc dân tộc, trang phục dân tộc Việt... Mô hình cũng được tổng kết, rút kinh nghiệm và chuyển giao cho các bệnh viện châm cứu vệ tinh để phát triển hệ thống bệnh viện châm cứu trong cả nước.

Phát huy các thế mạnh của châm cứu Việt góp phần nâng cao hiệu quả điều trị, góp phần giải quyết một số bệnh của xã hội hiện đại. Ðồng thời xây dựng hình ảnh của nền y học cổ truyền Việt Nam với bạn bè thế giới.

Thứ Năm, 1 tháng 8, 2013

TƯ THẾ NGỦ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHỨC NĂNG SINH LÝ NAM GIỚI

Tư thế ngủ tốt nhất cho nam giới là nằm ngửa, hai chân phân khai. Còn nằm sấp và nằm nghiêng đều có ảnh hưởng không tốt đến hệ thống sinh dục.

                                                                  Ảnh minh họa

Nằm sấp
Nam giới nằm sấp chèn ép nội tạng làm cho hô hấp không thuận lợi, thời gian dài sẽ tổn hại đến chức năng nội tạng. Đồng thời còn chèn ép hệ thống sinh dục, gây trở ngại cho tuần hoàn máu, gây ra di tinh nhiều,làm cho nam giới đau đầu, thiếu sức lực, ảnh hưởng đến công việc và sinh hoạt thường ngày.

Ngoài ra, “chú nhỏ” cũng bị chèn ép, nhiệt lực không phân tán đi được làm cho nhiệt độ của chú nhỏ tăng cao, ảnh hưởng đến chức năng sinh tinh của chú nhỏ, giảm thấp khả năng sinh dục của nam giới. Vì vậy, nam giới chưa làm bố cần đặc biệt chú ý, không nên nằm sấp ngủ.

Nằm nghiêng trái

Do vị trí tim ở bên trái cơ thể, khi nam giới nằm nghiêng ngủ, tim sẽ bị chèn ép, làm giấc ngủ không an, làm cho chất lượng giấc ngủ không tốt.

Ngoài ra, khi tim bị chèn ép, tuần hoàn máu toàn thân sẽ trở nên châm chạp, bao gồm cả tuần hoàn máu của cơ quan sinh dục. Nếu trong thời gian dài không cung cấp đầy đủ máu cho cơ quan sinh dục sẽ gây ra chướng ngại chức năng “thẳng đứng” cho chú nhỏ.

NHIỀU QUÝ ÔNG XUỐNG "PHONG ĐỘ" Ở TUỔI 45

Quý ông cần tập thể dục thường xuyên để làm chậm quá trình mãn dục.

Các khảo sát sức khỏe tình dục nam giới trên thế giới cho thấy đến 38,7% quý ông bị giảm ham muốn khi bước sang tuổi 45, theo bác sĩ Mai Bá Tiến Dũng, trưởng khoa Nam học Bệnh viện Bình Dân TP HCM.

                                                                     Ảnh minh họa

Trao đổi tại hội thảo về nam khoa tại Bệnh viện Bình Dân mới đây, bác sĩ Dũng cho biết hội chứng suy giảm sinh dục ở nam giới, còn gọi là mãn dục nam, ngày càng có dấu hiệu trẻ hóa.

Bác sĩ Dũng nhận xét: "Các nghiên cứu cho thấy, nhiều người chỉ vừa qua tuổi 40 đã phải đến phòng khám nam khoa vì trục trặc trong ân ái. Nhiều nhất là các triệu chứng giảm khoái cảm tình dục, giảm ham muốn, dương vật không thể cương cứng".

Theo vị bác sĩ trưởng Khoa Nam học, nguyên nhân chính gây hiện tượng chóng mãn dục nam là tình trạng testosteron tự do trong huyết thanh bị suy giảm. Loại nội tiết tố này vốn gây cương cứng và cực khoái. Không chỉ rối loạn cương, từ 40 đến 45 tuổi, quý ông cũng có dấu hiệu xuống cấp về tim mạch, cơ bắp và xương. Một số người bắt đầu xuất hiện các khối mỡ thừa.

Biểu hiện của mãn dục nam thường âm thầm. Do đó khi thấy có một trong những dấu hiệu bất thường như uể oải, dễ chán, có ham muốn nhưng không đạt được trạng thái cương..., người bệnh cần khám chữa tại các bệnh viện có chuyên khoa nam học để khám.

Quý ông cần tập thể dục thường xuyên để làm chậm quá trình mãn dục. Bên cạnh đó, dinh dưỡng phù hợp, môi trường sống tốt cũng là những yếu tố quan trọng trong việc ngăn ngừa chứng giảm ham muốn. Những người đã có biểu hiện mãn dục cần bổ sung testosteron, là liệu pháp giúp cải thiện triệu chứng.

QUÁ SỢ CÁCH TRÁNH THAI CỦA GIỚI TRẺ

Những năm gần đây, số ca nạo phá thai ngày càng tăng do thiếu hiểu biết.

Thống kê mới đây của Hội Kế hoạch hóa gia đình Việt Nam cho thấy, nếu như những năm trước tỷ lệ nạo phá thai ở tuổi vị thành niên chiếm 5-7% tổng số ca nạo phá thai thì vài năm gần đây đã tăng lên 10%. Đáng chú ý, nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng này là do thiếu hiểu biết…

Ảnh minh họa                                 
Nhiều câu hỏi ngây ngô
Ông Nguyễn Đình Bách, Phó Vụ trưởng Vụ Truyền thông Giáo dục, Tổng cục Dân số - Kế hoạch hóa gia đình (DS-KHHGĐ) chia sẻ, mỗi ngày Tổng đài Vì chất lượng cuộc sống của Tổng cục DS-KHHGĐ tiếp nhận hàng trăm cuộc điện thoại xin tư vấn về sức khỏe tình dục và sinh sản. Trong đó có hơn 60% gọi đến thắc mắc về sức khỏe sinh sản, tình dục, mãn dục nam, xuất tinh sớm, mãn kinh, tiền mãn kinh… là các bạn trẻ sắp hoặc đã có gia đình. Tuy nhiên, cũng có những trường hợp mới 13-15 tuổi gọi đến Tổng đài để hỏi về các dấu hiệu bạn gái mang thai, hay cách sử dụng thuốc tránh thai hàng ngày và khẩn cấp. Đáng buồn hơn, có rất nhiều trẻ vị thành niên gọi đến trình bày về những cách tránh thai “rất lạ” để xin ý kiến tư vấn. Qua đó, những người làm công tác dân số lo ngại khi thấy vẫn có một lỗ hổng kiến thức rất lớn về sức khỏe sinh sản, sức khỏe tình dục ở trẻ vị thành niên ngày nay.

Chẳng hạn, có một bạn gái 19 tuổi, gọi đến xin tư vấn vì: “mỗi lần quan hệ tình dục, em thường nhét túi ni lông vào tận sâu trong “em bé” để tránh thai, hết “trận chiến” mới dùng tay “khều ra”. Một vài lần em còn nhét bông băng thay túi nilon. Như vậy liệu em có bị mang thai không?”. Theo các chuyên gia Tổng đài Vì chất lượng cuộc sống, chưa rõ cách làm đó của bạn gái trẻ giúp tránh thai hiệu quả đến đâu nhưng hậu quả mà em này phải đối mặt là “vùng tam giác” bị viêm nhiễm nặng do không đảm bảo vệ sinh…

Đáng chú ý, không chỉ các bạn trẻ ở vùng nông thôn mà ngay cả các bạn trẻ sống trong môi trường thành thị, gia đình trí thức cũng rất thiếu kiến thức về sức khỏe tình dục, sinh sản. Bà Trương Thị Kim Hoa, Giám đốc Trung tâm DS-KHHGĐ quận Hoàn Kiếm (Hà Nội) kể, qua giảng dạy, nói chuyện với học sinh THPT về kiến thức sức khỏe sinh sản, sức khỏe tình dục, bà nhận được rất nhiều câu hỏi ngây ngô từ cả bạn nam lẫn bạn nữ về các biện pháp phòng tránh thai thế nào cho an toàn, uống thuốc tránh thai khẩn cấp liên tục có ảnh hưởng gì không, hoặc có nên hay không nên sống thử?… Bà Hoa cho biết, lý do cũng một phần vì các bậc phụ huynh mới chỉ quan tâm chăm lo cho các em về kiến thức, vật chất mà hiếm khi quan tâm đến chuyện tư vấn, hướng dẫn cho các em về sức khỏe sinh sản, thậm chí vì sợ con cái hư sớm mà né tránh, nghiêm cấm con cái tìm hiểu về lĩnh vực này khi còn đang ngồi trên ghế nhà trường.

Hậu quả khó lường
Thống kê mới đây của Hội KHHGĐ Việt Nam cho thấy, mỗi năm cả nước có khoảng 300.000 ca nạo hút thai ở độ tuổi 15-19, trong đó 60-70% là học sinh, sinh viên và con số này vẫn đang có xu hướng gia tăng. Đáng chú ý, nếu như những năm trước, tỷ lệ nạo phá thai ở tuổi vị thành niên nước ta chiếm 5-7% tổng số ca nạo phá thai thì vài năm gần đây, tỷ lệ này tăng lên 10%.

Thực trạng này cũng được đưa ra cảnh báo tại Hội thảo chia sẻ kinh nghiệm quốc tế về chính sách ứng phó với xu hướng giảm sinh do Tổng cục DS-KHHGĐ tổ chức mới đây. Ông Nguyễn Văn Tân, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục DS-KHHGĐ cho biết, 10 năm qua, tỷ lệ nạo phá thai ở Việt Nam liên tục giảm, tuy nhiên tỷ lệ nạo phá thai ở trẻ vị thành niên, thanh niên lại có dấu hiệu tăng. Chẳng hạn, theo báo cáo của Trung tâm Chăm sóc sức khỏe sinh sản TP Hồ Chí Minh năm 2012, cứ 100 trường hợp trẻ sinh ra sống lại có 73 trường hợp nạo phá thai, trong đó 2,4% là vị thành niên. Một số tài liệu khác cho thấy, trong số tỷ lệ nạo phá thai ở nước ta, 20% là ở lứa tuổi vị thành niên, trên cả nước có 5% em gái sinh con trước tuổi 18, 15% sinh con trước tuổi 20. Và đây cũng chỉ là thống kê từ các bệnh viện khu vực nhà nước, còn số liệu từ các bệnh viện tư, phòng khám tư thì không thống kê được.

Theo ông Tân, tình trạng này không chỉ là một gánh nặng, thách thức lớn cho công tác dân số nước ta trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe sinh sản thời gian tới, mà đáng ngại hơn là nó để lại những hậu quả nghiêm trọng cho thế hệ trẻ sau này, bởi nạo phá thai tràn lan chính là nguyên nhân hàng đầu gây viêm nhiễm đường sinh sản, vô sinh ở nữ giới.

THỰC PHẨM CẦN TRÁNH KHI MÃN KINH

Những phụ nữ đang trong thời kỳ mãn kinh nên tránh các thực phẩm sau đây.

                                                                       Ảnh minh họa

Rượu

Rượu không chỉ làm rối loạn tâm trạng mà còn gây mệt mỏi. Vì vậy hãy hạn chế hoặc tránh uống rượu trong giai đoạn mãn kinh.

Chất béo
Nếu bạn thích ăn thịt, hãy lựa chọn thịt nạc. Vì khi mãn kinh, phụ nữ bắt đầu giảm khả năng chuyển hóa khiến việc đốt cháy mỡ sẽ chậm hơn. Ngoài ra, nếu bạn không hạn chế lượng chất béo tiêu thụ, bạn sẽ dễ tăng cân.

Đường và muối
Ăn quá nhiều muối có thể làm tăng huyết áp, trong khi tiêu thụ quá nhiều đồ ngọt có thể làm rối loạn nồng độ đường huyết trong cơ thể.

Caffein
Phụ nữ mãn kinh thường phàn nàn bị khó ngủ. Nếu bạn gặp phải hiện tượng này, hãy tránh sử dụng caffein vì nó sẽ làm trầm trọng thêm tình trạng khó ngủ.

Đồ ăn cay
Đồ ăn cay thường khiến cơ thể ra nhiều mồ hôi vì vậy phụ nữ đang mãn kinh nên tránh dùng đồ ăn cay.

CÓ CON SAU 19 LẦN SẢY THAI

Chị Jo chỉ là một trong số 1,5 triệu phụ nữ tại Anh bị lạc nội mạc tử cung.

Sau 15 năm dài đằng đẵng kiếm con với 19 lần sảy thai, cuối cùng chị Jo Short, 37 tuổi, người Anh đã sinh được một bé gái khỏe mạnh.
Ảnh minh họa
Theo The Sun, chị Jo đặt tên thiên thần bé nhỏ của mình là Emily. Trước đó, chị gần như đã từ bỏ ước mơ sinh con cho đến lần mang thai gần đây.

Chị Jo kể lại: "Tôi đã tự hỏi không biết bao lần rằng vì sao mình lại sảy thai liên tiếp như thế. Tại tôi uống quá nhiều trà hay quá nhiều cà phê?".

Từ năm 1997, vợ chồng chị đã bắt đầu lên kế hoạch có em bé. Năm đó, chị có bầu và sảy thai lần đầu. Sau đó là quãng thời gian 15 năm, hết lần này đến khác chị có thai rồi lại sảy. Không biết bao nhiêu chuyên gia tư vấn đã nói rằng chị không thể có con được.

Jo chỉ là một trong số 1,5 triệu phụ nữ tại Anh bị lạc nội mạc tử cung, một bệnh phụ khoa thường dẫn đến vô sinh.

Năm ngoái, chị quyết định thử vận may với cách phẫu thuật tiên phong do chuyên gia Richard Penketh, ở thành phố Cardiff thực hiện. Ông đã tiến hành phẫu thuật trong 4 giờ để cắt hết tất cả các vết sẹo để lại do căn bệnh lạc nội mạc tử cung.

Không ngờ, 2 tháng sau thì chị có bầu lần thứ 20. Mọi thứ diễn ra suôn sẻ cho đến ngày chị chuyển dạ. Lúc này, thậm chí chị từ chối dùng thuốc giảm đau vì sợ ảnh hưởng đến em bé.

"Được làm mẹ thật là điều tuyệt vời. Bé là điều chúng tôi ao ước bấy lâu nay", chị Jo nói.

Lạc nội mạc tử cung là một bệnh khá phổ biến trong các bệnh phụ khoa ở chị em. Đây là tình trạng lớp niêm mạc không nằm trong tử cung mà di cư đến những chỗ khác như bụng, bàng quang thậm chí là buồng trứng... Ngoài việc gây đau, ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống, ở một số chị em bệnh có thể dẫn tới vô sinh.

Thứ Tư, 31 tháng 7, 2013

CHẨN ĐOÁN NHANH BỆNH LAO PHỔI

Các nhà khoa học cho biết qua thí nghiệm trên loài chuột, chỉ cần xét nghiệm hơi thở, so sánh và chỉ ra những thay đổi bất thường là có thể chẩn đoán bệnh nhiễm khuẩn phổi bao gồm cả bệnh lao.
                                                                    Ảnh minh họa

Tương lai gần có thể nâng cấp phiên bản này lên để phục vụ chẩn đoán trên người, và chỉ cần vài phút chứ không phải mất cả vài tuần mới có kết quả.

Báo Daily Mail dẫn lời tiến sĩ Jane Hill, thành viên nghiên cứu từ Đại học Vermont (Mỹ) cho biết phương pháp truyền thống để chẩn đoán viêm phổi do nhiễm khuẩn yêu cầu phải có một bộ sưu tập các mẫu. Qua đó sử dụng để nuôi cấy vi khuẩn, phân lập và sử dụng phương pháp xét nghiệm sinh hóa để biết chúng đã kháng thuốc hay chưa, nếu kháng thuốc thì đó là loại kháng sinh nào.
Toàn bộ quá trình nói trên theo thông lệ mất vài ngày cho các loại vi khuẩn phổ biến, thậm chí vài tuần đối với bệnh lao. Trong khi đó, phân tích hơi thở chỉ cần vài phút là đã có kết quả.

Các nhà khoa học đã phân tích các hợp chất hữu cơ dễ bay hơi để truy tìm dấu vết hai loài vi khuẩn gây bệnh viêm phổi khá phổ biến là Pseudomonas aeruginosa và Staphylococcus aureus, chỉ ra sự khác biệt rất rõ dấu vết trong hơi thở của chuột tham gia thử nghiệm. “Tôi tin rằng với phương pháp xét nghiệm hơi thở, chúng ta có thể phân biệt được các tác nhân gây bệnh trên phổi bao gồm vi khuẩn, virus và bệnh nấm phổi”, tiến sĩ Hill nói.

Bệnh lao từng lan tràn ở nước Anh mãi cho đến những năm 1950 mới được tạm khống chế nhờ kháng sinh. Theo số liệu từ cơ quan bảo vệ sức khỏe thì năm ngoái ở nước Anh đã có hơn 9.000 trường hợp mắc bệnh lao phổi, tăng 5% so với năm trước đó. Khu vực có nguy cơ cao nhất tại Anh vẫn là London với 3.588 trường hợp được báo cáo trong năm 2011, đa phần là dân nhập cư. Vì vậy, luật nước Anh bắt buộc phải kiểm tra Xquang trước khi muốn nhập cư nước này.

NHIỀU THÁCH THỨC TRONG PHÒNG,CHỐNG LAO

Việt Nam hiện xếp thứ 14/22 nước có số bệnh nhân lao nhiều nhất thế giới.


                                                                     Ảnh minh họa

Ngày 19/3, Sở Y tế TP.HCM đã tổ chức hội thảo Phối hợp y tế công - tư trong công tác phòng, chống lao giai đoạn 2013-2016.

TS.BS Nguyễn Hữu Lân, Phó Giám đốc BV Phạm Ngọc Thạch, TP.HCM, cho biết chương trình chống lao hiện đang gặp nhiều thách thức trong việc quản lý bệnh nhân lao đa kháng thuốc, bệnh nhân đồng nhiễm lao với bệnh nhiễm trùng cơ hội khác, sự kỳ thị và định kiến của người dân, bệnh nhân tự ý bỏ điều trị, không tuân thủ hướng dẫn điều trị của thầy thuốc…

Tại TP.HCM, sau khi thành lập Ban Chỉ đạo về phối hợp y tế công - tư trong công tác chống lao vào năm 2009, mỗi năm các đơn vị y tế đã tăng thêm số người thử đàm hơn 15%, phát hiện thêm 19% nguồn lây. Năm 2012, thành phố đã thu dung trên 15.000 bệnh nhân lao các thể, tăng gần 15% so với năm 2011. Tuy vậy, hiện nay chương trình phối hợp này vẫn còn khó khăn trong mời gọi các bệnh viện ngoài công lập trong phát hiện thực hiện xét nghiệm, chẩn đoán chuẩn và điều trị theo phác đồ chuẩn.

Thống kê cho thấy Việt Nam hiện xếp thứ 14/22 nước có số bệnh nhân lao nhiều nhất thế giới. Ước tính mỗi năm Việt Nam có thêm gần 200.000 người mắc bệnh lao và trên 30.000 người chết do các thể bệnh lao. Đáng lo ngại là tỉ lệ bệnh nhân lao đa kháng thuốc ở nước ta khá cao, ước tính khoảng 5.000-6.000 người (xếp thứ 14/27 nước có gánh nặng bệnh lao đa kháng thuốc trên toàn cầu). Điều đáng lưu ý là 5% trong số bệnh nhân lao đồng nhiễm HIV.

CHẤT TINH BỘT VÀ HOẠT ĐỘNG THỂ LỰC

1. Chuyển hoá năng lư­ợng trong quá trình tập luyện
Khi cơ bắp, ví dụ cơ tứ đầu đùi, từ trạng thái nghỉ ngơi hoàn toàn chuyển sang hoạt động tối đa, thì tiêu hao năng lư­ợng có thể tăng lên gấp 300 lần. Tư­ơng tự các loại động cơ, năng lượng dư­ới dạng hoá năng (xăng dầu) được chuyển thành cơ năng (xe chạy) và một phần toả nhiệt. Nguồn năng lượng tức thời cho cơ hoạt động là ATP (axit adenosin triphotphat).

                                                         Ảnh minh họa

Tuy nhiên nguồn dự trữ ATP của cơ rất ít (5,5mmol/kg) và tiêu hao nhanh trong thời gian hoạt động đầu tiên. Nó phải đư­ợc tổng hợp liên tục khi các tế bào cơ chuyển hoá glycogen và các axit béo với sự có mặt của oxy (chuyển hoá ­ưa khí - aeroB1c metabolism). ATP còn có thể được tổng hợp bằng con đường yếm khí (không có oxy - anaeroB1c metabolism), và chỉ có glucoza, glycogen được sử dụng với hiệu quả thấp hơn, tạo ra 3 ATP thay vì 38, 39 ATP trên mỗi đơn vị glucoza đư­ợc oxy hoá. Như vậy hai nguồn dự trữ năng lượng chính của cơ thể là glycogen và chất béo. Trong đó dự trữ glycogen trong cơ và gan chỉ ở mức độ hạn chế - một người nặng 70kg, bình thư­ờng có dự trữ glycogen là 300-500g tại cơ và 70-150g tại gan; ngược lại, dự trữ mỡ trong các hoạt động thể thao thực tế coi như là vô hạn, kể cả các vận động viên gầy nhất (7-10% mỡ). Sự mệt mỏi, kiệt sức chủ yếu liên quan đến sự cạn kiệt dự trữ glycogen.

Bảng 1. Dự trữ năng lượng dưới dạng mỡ và glycogen ở đàn ông nặng 70kg (Newsholme và Leech, 1983)

Nguồn dự trữ
E, năng lượng
Thời gian chạy (phút)
Cự ly (Km)
Mô mỡ
337.500
4.018
0,880 –1,008
Glucogen/gan
1.160
20
4,8-6,4
Glucogen/cơ
5.880
71
16-22,4
Glucoza/máu
48
<1



Các yếu tố quyết định việc sử dụng loại nhiên liệu nào - glycogen hay chất béo - phụ thuộc vào cư­ờng độ, thời gian tập ngắn hay dài, tình trạng tập luyện (đã quen hay lạ), chế độ ăn... (Hargreaves, 1991). C­ường độ tập hay thi đấu càng cao như­ bóng đá, bóng rổ,... dựa chủ yếu vào nguồn glycogen. Thời gian thi đấu càng dài, như­ chạy maratông, đua xe đạp đường trường, tỷ lệ năng lượng do glycogen cung cấp giảm dần và chất béo cung cấp năng lượng ngày càng tăng lên, có thể tăng đến 50%. Ðiều đó là do lượng glycogen hao hụt dần và khả năng sử dụng axit béo tăng lên. Tập luyện buộc các cơ hoạt động nhận nhiều oxy từ máu đưa tới và quá trình chuyển hoá năng lượng ưa khí tăng, tạo điều kiện thuận lợi cho việc sử dụng thêm các axit béo tự do và tiết kiệm lượng glycogen chỉ có hạn chế trong cơ thể.

Tuy nhiên chất béo không phải là nguồn nhiên liệu duy nhất. Ngược lại, các loại hình đòi hỏi thời gian thi đấu cực ngắn, như­ nhảy cầu, nhảy xa, ném tạ, ... chủ yếu sử dụng ATP, creatin photphat. Nếu thời gian thi đấu dài hơn thì dựa hoàn toàn vào chuyển hoá yếm khí và sau đó là ưa khí glycogen. Thí dụ, chạy 2 phút ( tương đương 800m) thì 50% năng lượng từ chuyển hoá yếm khí và 50% năng lượng từ chuyển hoá ư­a khí.

Cần chú ý là, bất cứ hoạt động nào được thực hiện đều sử dụng và làm hao hụt dự trữ glycogen. Cường độ hoạt động càng cao, thời gian hoạt động càng dài đòi hỏi càng nhiều dự trữ glycogen để liên tục tổng hợp ATP cung cấp đủ năng lượng cực lớn. Nếu không đủ năng lượng, cách duy nhất để cân bằng là giảm cường độ và thời gian vận động. Ðiều đó cũng có nghĩa là, nếu dự trữ glycogen không đầy đủ thì khả năng thực hiện vận động ở mức độ cao sẽ bị ảnh hưởng. Ðiều này không chỉ quan trọng trong các cuộc thi đấu, mà còn cần thiết cho các đợt tập luyện, vì chỉ có qua tập luyện thành tích mới được nâng dần lên và điều đó chỉ thực hiện được nếu cơ thể dự trữ tốt glycogen tr­ước mỗi đợt tập luyện.

2. Vai trò của glycogen trong tập luyện
Khi tập luyện glycogen trong các cơ hoạt động bị hao hụt dần, trong khi số lượng dự trữ chỉ có hạn, do vậy dự trữ glycogen cần đư­ợc phục hồi trước mỗi đợt tập luyện. Nếu dự trữ glycogen chư­a đ­ược phục hồi, đợt tập luyện bắt đầu với lượng dự trữ glycogen thấp, chắc chắn chất lượng và số lượng bài tập sẽ giảm.
Nếu việc phục hồi dự trữ glycogen không đư­ợc thực hiện liên tục sau nhiều buổi tập sẽ dẫn đến cạn kiệt glycogen trong cơ và việc thực hiện các bài tập nhẹ nhàng nhất cũng trở nên khó khăn. Cảm giác mệt mỏi, đau nhức cơ, hoặc không phục hồi sức lực giữa các đợt huấn luyện và hội chứng tập luyện quá sức có thể hoàn toàn do việc cố gắng tập luyện mà thiếu sự tái dự trữ glycogen đầy đủ trư­ớc các đợt tập.

Vai trò quan trọng của glycogen và đường huyết (glucoza/máu) trong hoạt động thể lực đ­ược chứng minh qua nhiều công trình nghiên cứu. Người ta thấy rằng, dự trữ glycogen/cơ và việc cung cấp glucoza trong quá trình tập luyện giúp tăng cường độ và thời gian thực hiện vận động: do vậy việc phục hồi dự trữ glycogen sau các đợt tập luyện là quá trình chuyển hoá chủ yếu trong giai đoạn phục hồi của cơ thể. Tập luyện kích thích tổng hợp glycogen tại cơ, nhưng việc phục hồi dự trữ trong giai đoạn phục hồi của cơ thể phụ thuộc vào lượng tinh bột trong thức ăn (Hargreaves, 1991).

3. Các yếu tố ảnh hưởng đến tốc độ phục hồi dự trữ glycogen
Yếu tố trước tiên ảnh hưởng đến tốc độ tái tổng hợp glycogen là loại và số lượng hydrat cacbon ăn vào cũng như thời gian ăn vào. Glycogen/cơ tiêu hao toàn bộ sau 2-3 giờ hoạt động liên tục ở cường độ khá cao (60-80% VO2max), hoặc sau 15-30 phút hoạt động ở cường độ quá cao (90-130%VO2 max) với 1-5 phút hoạt động và nghỉ, lại hoạt động tiếp (khúc côn cầu... ) (Coyle, 1991.)
 Vận động viên tập quyền hằng ngày cần tăng lượng tinh bột ăn vào để tránh tình trạng mệt mỏi, tập luyện quá sức, thực hiện vận động kém.
Glycogen dự trữ trong cơ với tốc độ khoảng 5% mỗi giờ, vì vậy sau mỗi đợt tập hết sức cần 20 giờ để hồi phục hoàn toàn. Trong 2 giờ đầu sau tập luyện glycogen tổng hợp với tốc độ nhanh 7%/1giờ. Vận động viên cần nhận đủ lượng tinh bột trong thời gian này. Thông thường là 50g cho người nặng 70kg trong vòng 2 giờ đầu (điều chỉnh theo trọng lượng cơ thể).

4. Khuyến nghị về chế độ ăn khi tập luyện
Hầu hết các chuyên gia về dinh dưỡng thể thao đều khuyến nghị lượng hydrat cacbon nên chiếm 60-70% năng lượng khẩu phần. Ðối với vận động viên tập luyện nặng nhu cầu hydrat cacbon là 8-10g/kg trọng lượng cơ thể. Ðiều này cũng phù hợp trong dinh dưỡng hợp lý cho tất cả mọi người, nhất là thanh niên.
Các loại tinh bột hay đường khác nhau có tác dụng tái dự trữ glycogen tương tự nhau.
Vận động viên tập luyện nặng và kéo dài thì nhu cầu năng lượng rất cao, nếu ăn nhiều tinh bột sẽ không nhận đủ lượng do tinh bột hút nước, cồng kềnh mà ít năng lượng, nên được khuyến cáo dùng nhiều đường, thư­ờng dưới dạng nước ngọt để cung cấp đủ năng lượng. Ví dụ, vận động viên đua xe đạp đường trường, nhu cầu năng lượng lên đến 5.000-6000 kcal/ngày, trong đó 50% nhu cầu đư­ợc cung cấp bởi các loại nước ngọt.

Vận động viên có nhu cầu năng lượng thấp hơn thì nguồn hydrat cacbon nên là tinh bột, trái cây và nước ép trái cây là chính. Ða số vận động viên không chấp nhận thức ăn đặc ngay sau tập luyện do vậy các loại nước uống có glucoza, sucroza hoặc maltodextrin 6-10% trong 2 giờ đầu dễ đư­ợc chấp nhận hơn. Sau đó cần tiếp tục cung cấp 50g hydrat cacbon/2 giờ hoặc thực tế hơn là thay bằng bữa ăn có đầy đủ lượng tinh bột cho thời gian dài hơn. Ví dụ, 150g/6giờ hoặc 250g/10 giờ (Coyle, 1991).

Tuy nhiên, việc hướng dẫn chế độ ăn cần phù hợp với thói quen ăn uống của từng vận động viên thì chế độ ăn mới đ­ược tuân thủ. Ngoài ra, vận động viên cũng gặp nhiều khó khăn trong việc mua - chế biến - tồn trữ - mang đồ ăn - ăn số lượng thức ăn lớn trong quá trình tập luyện. Thông thường tập 2 buổi mỗi ngày, mỗi buổi khoảng 2 giờ và không tập trước 1-2 giờ sau bữa ăn chính. Nhiều khi vận động viên không sắp xếp được về mặt giờ giấc và phải bỏ bữa. Các thức ăn chế biến sẵn giàu năng lượng, thuận tiện trong sử dụng sẽ hỗ trợ đắc lực cho việc đảm bảo đủ nhu cầu.

5. Khuyến nghị trong quá trình chuẩn bị thi đấu
Vấn đề dinh dưỡng quan trọng nhất đối với giai đoạn này là đảm bảo cho vận động viên phục hồi hoàn toàn sau giai đoạn tập luyện với lượng dự trữ glycogen ít nhất là bằng mức bình thường trước trận đấu.
Người ta đưa ra nhiều chế độ ăn và tập luyện khác nhau để năng lượng dự trữ glycogen/cơ lên cao hơn mức bình thường, cao nhất có thể tới 2000 là có thể đạt kết quả tối đa trong thi đấu dựa vào cơ chế "bù quá mức" (super compensation) của cơ.

Phương pháp cổ điển là, một tuần trước khi thi đấu cho vận động viên tập hết sức 2 lần/ngày; tiếp theo 3 ngày cho ăn thực đơn nghèo hyđrat cacbon (20 30%) và giàu lipid (40-50%); tập vừa phải dẫn đến sự cạn kiệt dự trữ glycogen. Trong 4 ngày trước khi thi đấu cho chế độ ăn giàu hydrat cacbon (75-80%). Ba ngày đầu tập nhẹ nhàng và ngày cuối cùng nghỉ tập hoàn toàn giúp tăng dự trữ glycogen (Bergstrom et al 1967, Astrand, 1967).

Tuy nhiên gần đây nhiều tác giả cho rằng, phương pháp này nếu việc tổ chức và quản lý ăn uống không chặt chẽ sẽ dẫn đến dung nạp glycogen không đủ (Wootton et al 1981). Do vậy nhiều nhà dinh dưỡng học thể thao khuyến cáo các vận động viên hàng ngày nên ăn chế độ ăn đủ hydrat cacbon (60-70%) và lên kế hoạch tập luyện như­ đã nêu trên, cùng với chế độ ăn giàu hydrat cacbon (75-80%) trong 1đến 3 ngày cuối, tuỳ loại hình thi đấu để tăng dự trữ glycogen (Sherman, 1983).

Tăng dự trữ glycogen không những hữu ích đối với các cuộc thi kéo dài như­ chạy maratông, xe đạp đường trường..., mà còn có tác dụng với tất cả các cuộc thi đấu ngắn hơn, nhưng thi nhiều lần trong một đợt thi, nhằm giảm tiêu hao liên tục sau mỗi trận đấu.

Sự gia tăng dự trữ glycogen cao hơn mức bình thường cũng cải thiện kết quả thi đấu ở các môn có gắng sức lớn trong thời gian ngắn (Plaughan, 1990).

Yếu tố bất lợi duy nhất của việc tăng dự trữ glycogen là tăng trọng lượng cơ thể. Cảm giác "căng" cơ là do 1g glycogen gắn với 2,7g nước và 0,45mmol cacbonat kali. Ðiều này đặc biệt có ý nghĩa đối với các môn thể thao xếp hạng cân nặng vận động viên.
Bữa ăn cuối cùng trước trận đấu trên 2 giờ dựa chủ yếu vào chất tinh bột ít chất béo, ít đạm, ít xơ và dễ tiêu hoá, tránh gây khó chịu cho đường tiêu hoá. Thông thường các chuyên gia dinh dưỡng đề nghị sử dụng 200-300g chất tinh bột trong 4 giờ trước khi thi đấu; một số khác đề nghị 1g/kg thể trọng 1 giờ trước khi thi đấu và 4,5g/kg thể trọng trong 4 giờ trước đó. Các cuộc thi kéo dài trên 2 giờ cần duy trì cung cấp đường trong thời gian thi đấu. Việc ăn chất tinh bột ngay trước và trong thi đấu có tác dụng tốt đư­ợc ghi nhận trong nhiều nghiên cứu gần đây. Các quan niệm cho rằng ăn đường trước trận đấu làm tăng insulin dẫn đến hạ đường huyết sau đó và ảnh hưởng đến kết quả thi đấu là không có cơ sở (Coyle, 1991).

Việc tiếp tục cung cấp các loại hydrat cacbon trong các cuộc thi kéo dài và ở cường độ cao nhằm đảm bảo đủ nhu cầu hydrat cacbon cho các giai đoạn sau của cuộc thi, khi dự trữ cạn kiệt dẫn đến mệt mỏi trầm trọng và giảm khả năng thi đấu. Tuy nhiên, nên cung cấp hydrat cacbon đều đặn trong suốt thời gian thi đấu (nếu cho phép) hơn là chờ cho tới khi có dấu hiệu mệt nhọc. Các loại đường như­ glucoza, sucroza, maltodextrin có hiệu quả tương tự nhau trong đề phòng sự mệt nhọc.
Trong đa số trường hợp, các loại đồ uống dạng lỏng dễ đ­ược chấp nhận hơn thức ăn đặc. Số lượng và nồng độ đường phụ thuộc vào từng tình huống, sở thích, thói quen và nhu cầu bù nước. Các loại nước uống có lượng đường cao (­ưu trương) làm giảm hấp thu nước, do vậy trong nhiều trường hợp cần phân biệt vận động viên bị mệt nhọc là do thiếu nhiên liệu (glycogen) hay do bị thiếu nước để cung cấp loại nước có nồng độ phù hợp. Thông thường các thức ăn cho vận động viên "sport drinks" có lượng đường là 5-10%.