Các nhà khoa học cho biết qua thí nghiệm trên loài chuột, chỉ cần xét nghiệm hơi thở, so sánh và chỉ ra những thay đổi bất thường là có thể chẩn đoán bệnh nhiễm khuẩn phổi bao gồm cả bệnh lao.
Ảnh minh họa
Tương lai gần có thể nâng cấp phiên bản này lên để phục vụ chẩn đoán trên người, và chỉ cần vài phút chứ không phải mất cả vài tuần mới có kết quả.
Báo Daily Mail dẫn lời tiến sĩ Jane Hill, thành viên nghiên cứu từ Đại học Vermont (Mỹ) cho biết phương pháp truyền thống để chẩn đoán viêm phổi do nhiễm khuẩn yêu cầu phải có một bộ sưu tập các mẫu. Qua đó sử dụng để nuôi cấy vi khuẩn, phân lập và sử dụng phương pháp xét nghiệm sinh hóa để biết chúng đã kháng thuốc hay chưa, nếu kháng thuốc thì đó là loại kháng sinh nào.
Toàn bộ quá trình nói trên theo thông lệ mất vài ngày cho các loại vi khuẩn phổ biến, thậm chí vài tuần đối với bệnh lao. Trong khi đó, phân tích hơi thở chỉ cần vài phút là đã có kết quả.
Các nhà khoa học đã phân tích các hợp chất hữu cơ dễ bay hơi để truy tìm dấu vết hai loài vi khuẩn gây bệnh viêm phổi khá phổ biến là Pseudomonas aeruginosa và Staphylococcus aureus, chỉ ra sự khác biệt rất rõ dấu vết trong hơi thở của chuột tham gia thử nghiệm. “Tôi tin rằng với phương pháp xét nghiệm hơi thở, chúng ta có thể phân biệt được các tác nhân gây bệnh trên phổi bao gồm vi khuẩn, virus và bệnh nấm phổi”, tiến sĩ Hill nói.
Bệnh lao từng lan tràn ở nước Anh mãi cho đến những năm 1950 mới được tạm khống chế nhờ kháng sinh. Theo số liệu từ cơ quan bảo vệ sức khỏe thì năm ngoái ở nước Anh đã có hơn 9.000 trường hợp mắc bệnh lao phổi, tăng 5% so với năm trước đó. Khu vực có nguy cơ cao nhất tại Anh vẫn là London với 3.588 trường hợp được báo cáo trong năm 2011, đa phần là dân nhập cư. Vì vậy, luật nước Anh bắt buộc phải kiểm tra Xquang trước khi muốn nhập cư nước này.
Thứ Tư, 31 tháng 7, 2013
NHIỀU THÁCH THỨC TRONG PHÒNG,CHỐNG LAO
Việt Nam hiện xếp thứ 14/22 nước có số bệnh nhân lao nhiều nhất thế giới.
Ảnh minh họa
Ngày 19/3, Sở Y tế TP.HCM đã tổ chức hội thảo Phối hợp y tế công - tư trong công tác phòng, chống lao giai đoạn 2013-2016.
TS.BS Nguyễn Hữu Lân, Phó Giám đốc BV Phạm Ngọc Thạch, TP.HCM, cho biết chương trình chống lao hiện đang gặp nhiều thách thức trong việc quản lý bệnh nhân lao đa kháng thuốc, bệnh nhân đồng nhiễm lao với bệnh nhiễm trùng cơ hội khác, sự kỳ thị và định kiến của người dân, bệnh nhân tự ý bỏ điều trị, không tuân thủ hướng dẫn điều trị của thầy thuốc…
Tại TP.HCM, sau khi thành lập Ban Chỉ đạo về phối hợp y tế công - tư trong công tác chống lao vào năm 2009, mỗi năm các đơn vị y tế đã tăng thêm số người thử đàm hơn 15%, phát hiện thêm 19% nguồn lây. Năm 2012, thành phố đã thu dung trên 15.000 bệnh nhân lao các thể, tăng gần 15% so với năm 2011. Tuy vậy, hiện nay chương trình phối hợp này vẫn còn khó khăn trong mời gọi các bệnh viện ngoài công lập trong phát hiện thực hiện xét nghiệm, chẩn đoán chuẩn và điều trị theo phác đồ chuẩn.
Thống kê cho thấy Việt Nam hiện xếp thứ 14/22 nước có số bệnh nhân lao nhiều nhất thế giới. Ước tính mỗi năm Việt Nam có thêm gần 200.000 người mắc bệnh lao và trên 30.000 người chết do các thể bệnh lao. Đáng lo ngại là tỉ lệ bệnh nhân lao đa kháng thuốc ở nước ta khá cao, ước tính khoảng 5.000-6.000 người (xếp thứ 14/27 nước có gánh nặng bệnh lao đa kháng thuốc trên toàn cầu). Điều đáng lưu ý là 5% trong số bệnh nhân lao đồng nhiễm HIV.
Ảnh minh họa
Ngày 19/3, Sở Y tế TP.HCM đã tổ chức hội thảo Phối hợp y tế công - tư trong công tác phòng, chống lao giai đoạn 2013-2016.
TS.BS Nguyễn Hữu Lân, Phó Giám đốc BV Phạm Ngọc Thạch, TP.HCM, cho biết chương trình chống lao hiện đang gặp nhiều thách thức trong việc quản lý bệnh nhân lao đa kháng thuốc, bệnh nhân đồng nhiễm lao với bệnh nhiễm trùng cơ hội khác, sự kỳ thị và định kiến của người dân, bệnh nhân tự ý bỏ điều trị, không tuân thủ hướng dẫn điều trị của thầy thuốc…
Tại TP.HCM, sau khi thành lập Ban Chỉ đạo về phối hợp y tế công - tư trong công tác chống lao vào năm 2009, mỗi năm các đơn vị y tế đã tăng thêm số người thử đàm hơn 15%, phát hiện thêm 19% nguồn lây. Năm 2012, thành phố đã thu dung trên 15.000 bệnh nhân lao các thể, tăng gần 15% so với năm 2011. Tuy vậy, hiện nay chương trình phối hợp này vẫn còn khó khăn trong mời gọi các bệnh viện ngoài công lập trong phát hiện thực hiện xét nghiệm, chẩn đoán chuẩn và điều trị theo phác đồ chuẩn.
Thống kê cho thấy Việt Nam hiện xếp thứ 14/22 nước có số bệnh nhân lao nhiều nhất thế giới. Ước tính mỗi năm Việt Nam có thêm gần 200.000 người mắc bệnh lao và trên 30.000 người chết do các thể bệnh lao. Đáng lo ngại là tỉ lệ bệnh nhân lao đa kháng thuốc ở nước ta khá cao, ước tính khoảng 5.000-6.000 người (xếp thứ 14/27 nước có gánh nặng bệnh lao đa kháng thuốc trên toàn cầu). Điều đáng lưu ý là 5% trong số bệnh nhân lao đồng nhiễm HIV.
CHẤT TINH BỘT VÀ HOẠT ĐỘNG THỂ LỰC
1. Chuyển hoá năng lượng trong quá trình tập luyện
Khi cơ bắp, ví dụ cơ tứ đầu đùi, từ trạng thái nghỉ ngơi hoàn toàn chuyển sang hoạt động tối đa, thì tiêu hao năng lượng có thể tăng lên gấp 300 lần. Tương tự các loại động cơ, năng lượng dưới dạng hoá năng (xăng dầu) được chuyển thành cơ năng (xe chạy) và một phần toả nhiệt. Nguồn năng lượng tức thời cho cơ hoạt động là ATP (axit adenosin triphotphat).
Ảnh minh họa
Tuy nhiên nguồn dự trữ ATP của cơ rất ít (5,5mmol/kg) và tiêu hao nhanh trong thời gian hoạt động đầu tiên. Nó phải được tổng hợp liên tục khi các tế bào cơ chuyển hoá glycogen và các axit béo với sự có mặt của oxy (chuyển hoá ưa khí - aeroB1c metabolism). ATP còn có thể được tổng hợp bằng con đường yếm khí (không có oxy - anaeroB1c metabolism), và chỉ có glucoza, glycogen được sử dụng với hiệu quả thấp hơn, tạo ra 3 ATP thay vì 38, 39 ATP trên mỗi đơn vị glucoza được oxy hoá. Như vậy hai nguồn dự trữ năng lượng chính của cơ thể là glycogen và chất béo. Trong đó dự trữ glycogen trong cơ và gan chỉ ở mức độ hạn chế - một người nặng 70kg, bình thường có dự trữ glycogen là 300-500g tại cơ và 70-150g tại gan; ngược lại, dự trữ mỡ trong các hoạt động thể thao thực tế coi như là vô hạn, kể cả các vận động viên gầy nhất (7-10% mỡ). Sự mệt mỏi, kiệt sức chủ yếu liên quan đến sự cạn kiệt dự trữ glycogen.
Bảng 1. Dự trữ năng lượng dưới dạng mỡ và glycogen ở đàn ông nặng 70kg (Newsholme và Leech, 1983)
Các yếu tố quyết định việc sử dụng loại nhiên liệu nào - glycogen hay chất béo - phụ thuộc vào cường độ, thời gian tập ngắn hay dài, tình trạng tập luyện (đã quen hay lạ), chế độ ăn... (Hargreaves, 1991). Cường độ tập hay thi đấu càng cao như bóng đá, bóng rổ,... dựa chủ yếu vào nguồn glycogen. Thời gian thi đấu càng dài, như chạy maratông, đua xe đạp đường trường, tỷ lệ năng lượng do glycogen cung cấp giảm dần và chất béo cung cấp năng lượng ngày càng tăng lên, có thể tăng đến 50%. Ðiều đó là do lượng glycogen hao hụt dần và khả năng sử dụng axit béo tăng lên. Tập luyện buộc các cơ hoạt động nhận nhiều oxy từ máu đưa tới và quá trình chuyển hoá năng lượng ưa khí tăng, tạo điều kiện thuận lợi cho việc sử dụng thêm các axit béo tự do và tiết kiệm lượng glycogen chỉ có hạn chế trong cơ thể.
Tuy nhiên chất béo không phải là nguồn nhiên liệu duy nhất. Ngược lại, các loại hình đòi hỏi thời gian thi đấu cực ngắn, như nhảy cầu, nhảy xa, ném tạ, ... chủ yếu sử dụng ATP, creatin photphat. Nếu thời gian thi đấu dài hơn thì dựa hoàn toàn vào chuyển hoá yếm khí và sau đó là ưa khí glycogen. Thí dụ, chạy 2 phút ( tương đương 800m) thì 50% năng lượng từ chuyển hoá yếm khí và 50% năng lượng từ chuyển hoá ưa khí.
Cần chú ý là, bất cứ hoạt động nào được thực hiện đều sử dụng và làm hao hụt dự trữ glycogen. Cường độ hoạt động càng cao, thời gian hoạt động càng dài đòi hỏi càng nhiều dự trữ glycogen để liên tục tổng hợp ATP cung cấp đủ năng lượng cực lớn. Nếu không đủ năng lượng, cách duy nhất để cân bằng là giảm cường độ và thời gian vận động. Ðiều đó cũng có nghĩa là, nếu dự trữ glycogen không đầy đủ thì khả năng thực hiện vận động ở mức độ cao sẽ bị ảnh hưởng. Ðiều này không chỉ quan trọng trong các cuộc thi đấu, mà còn cần thiết cho các đợt tập luyện, vì chỉ có qua tập luyện thành tích mới được nâng dần lên và điều đó chỉ thực hiện được nếu cơ thể dự trữ tốt glycogen trước mỗi đợt tập luyện.
2. Vai trò của glycogen trong tập luyện
Khi tập luyện glycogen trong các cơ hoạt động bị hao hụt dần, trong khi số lượng dự trữ chỉ có hạn, do vậy dự trữ glycogen cần được phục hồi trước mỗi đợt tập luyện. Nếu dự trữ glycogen chưa được phục hồi, đợt tập luyện bắt đầu với lượng dự trữ glycogen thấp, chắc chắn chất lượng và số lượng bài tập sẽ giảm.
Nếu việc phục hồi dự trữ glycogen không được thực hiện liên tục sau nhiều buổi tập sẽ dẫn đến cạn kiệt glycogen trong cơ và việc thực hiện các bài tập nhẹ nhàng nhất cũng trở nên khó khăn. Cảm giác mệt mỏi, đau nhức cơ, hoặc không phục hồi sức lực giữa các đợt huấn luyện và hội chứng tập luyện quá sức có thể hoàn toàn do việc cố gắng tập luyện mà thiếu sự tái dự trữ glycogen đầy đủ trước các đợt tập.
Vai trò quan trọng của glycogen và đường huyết (glucoza/máu) trong hoạt động thể lực được chứng minh qua nhiều công trình nghiên cứu. Người ta thấy rằng, dự trữ glycogen/cơ và việc cung cấp glucoza trong quá trình tập luyện giúp tăng cường độ và thời gian thực hiện vận động: do vậy việc phục hồi dự trữ glycogen sau các đợt tập luyện là quá trình chuyển hoá chủ yếu trong giai đoạn phục hồi của cơ thể. Tập luyện kích thích tổng hợp glycogen tại cơ, nhưng việc phục hồi dự trữ trong giai đoạn phục hồi của cơ thể phụ thuộc vào lượng tinh bột trong thức ăn (Hargreaves, 1991).
3. Các yếu tố ảnh hưởng đến tốc độ phục hồi dự trữ glycogen
Yếu tố trước tiên ảnh hưởng đến tốc độ tái tổng hợp glycogen là loại và số lượng hydrat cacbon ăn vào cũng như thời gian ăn vào. Glycogen/cơ tiêu hao toàn bộ sau 2-3 giờ hoạt động liên tục ở cường độ khá cao (60-80% VO2max), hoặc sau 15-30 phút hoạt động ở cường độ quá cao (90-130%VO2 max) với 1-5 phút hoạt động và nghỉ, lại hoạt động tiếp (khúc côn cầu... ) (Coyle, 1991.)
Vận động viên tập quyền hằng ngày cần tăng lượng tinh bột ăn vào để tránh tình trạng mệt mỏi, tập luyện quá sức, thực hiện vận động kém.
Glycogen dự trữ trong cơ với tốc độ khoảng 5% mỗi giờ, vì vậy sau mỗi đợt tập hết sức cần 20 giờ để hồi phục hoàn toàn. Trong 2 giờ đầu sau tập luyện glycogen tổng hợp với tốc độ nhanh 7%/1giờ. Vận động viên cần nhận đủ lượng tinh bột trong thời gian này. Thông thường là 50g cho người nặng 70kg trong vòng 2 giờ đầu (điều chỉnh theo trọng lượng cơ thể).
4. Khuyến nghị về chế độ ăn khi tập luyện
Hầu hết các chuyên gia về dinh dưỡng thể thao đều khuyến nghị lượng hydrat cacbon nên chiếm 60-70% năng lượng khẩu phần. Ðối với vận động viên tập luyện nặng nhu cầu hydrat cacbon là 8-10g/kg trọng lượng cơ thể. Ðiều này cũng phù hợp trong dinh dưỡng hợp lý cho tất cả mọi người, nhất là thanh niên.
Các loại tinh bột hay đường khác nhau có tác dụng tái dự trữ glycogen tương tự nhau.
Vận động viên tập luyện nặng và kéo dài thì nhu cầu năng lượng rất cao, nếu ăn nhiều tinh bột sẽ không nhận đủ lượng do tinh bột hút nước, cồng kềnh mà ít năng lượng, nên được khuyến cáo dùng nhiều đường, thường dưới dạng nước ngọt để cung cấp đủ năng lượng. Ví dụ, vận động viên đua xe đạp đường trường, nhu cầu năng lượng lên đến 5.000-6000 kcal/ngày, trong đó 50% nhu cầu được cung cấp bởi các loại nước ngọt.
Vận động viên có nhu cầu năng lượng thấp hơn thì nguồn hydrat cacbon nên là tinh bột, trái cây và nước ép trái cây là chính. Ða số vận động viên không chấp nhận thức ăn đặc ngay sau tập luyện do vậy các loại nước uống có glucoza, sucroza hoặc maltodextrin 6-10% trong 2 giờ đầu dễ được chấp nhận hơn. Sau đó cần tiếp tục cung cấp 50g hydrat cacbon/2 giờ hoặc thực tế hơn là thay bằng bữa ăn có đầy đủ lượng tinh bột cho thời gian dài hơn. Ví dụ, 150g/6giờ hoặc 250g/10 giờ (Coyle, 1991).
Tuy nhiên, việc hướng dẫn chế độ ăn cần phù hợp với thói quen ăn uống của từng vận động viên thì chế độ ăn mới được tuân thủ. Ngoài ra, vận động viên cũng gặp nhiều khó khăn trong việc mua - chế biến - tồn trữ - mang đồ ăn - ăn số lượng thức ăn lớn trong quá trình tập luyện. Thông thường tập 2 buổi mỗi ngày, mỗi buổi khoảng 2 giờ và không tập trước 1-2 giờ sau bữa ăn chính. Nhiều khi vận động viên không sắp xếp được về mặt giờ giấc và phải bỏ bữa. Các thức ăn chế biến sẵn giàu năng lượng, thuận tiện trong sử dụng sẽ hỗ trợ đắc lực cho việc đảm bảo đủ nhu cầu.
5. Khuyến nghị trong quá trình chuẩn bị thi đấu
Vấn đề dinh dưỡng quan trọng nhất đối với giai đoạn này là đảm bảo cho vận động viên phục hồi hoàn toàn sau giai đoạn tập luyện với lượng dự trữ glycogen ít nhất là bằng mức bình thường trước trận đấu.
Người ta đưa ra nhiều chế độ ăn và tập luyện khác nhau để năng lượng dự trữ glycogen/cơ lên cao hơn mức bình thường, cao nhất có thể tới 2000 là có thể đạt kết quả tối đa trong thi đấu dựa vào cơ chế "bù quá mức" (super compensation) của cơ.
Phương pháp cổ điển là, một tuần trước khi thi đấu cho vận động viên tập hết sức 2 lần/ngày; tiếp theo 3 ngày cho ăn thực đơn nghèo hyđrat cacbon (20 30%) và giàu lipid (40-50%); tập vừa phải dẫn đến sự cạn kiệt dự trữ glycogen. Trong 4 ngày trước khi thi đấu cho chế độ ăn giàu hydrat cacbon (75-80%). Ba ngày đầu tập nhẹ nhàng và ngày cuối cùng nghỉ tập hoàn toàn giúp tăng dự trữ glycogen (Bergstrom et al 1967, Astrand, 1967).
Tuy nhiên gần đây nhiều tác giả cho rằng, phương pháp này nếu việc tổ chức và quản lý ăn uống không chặt chẽ sẽ dẫn đến dung nạp glycogen không đủ (Wootton et al 1981). Do vậy nhiều nhà dinh dưỡng học thể thao khuyến cáo các vận động viên hàng ngày nên ăn chế độ ăn đủ hydrat cacbon (60-70%) và lên kế hoạch tập luyện như đã nêu trên, cùng với chế độ ăn giàu hydrat cacbon (75-80%) trong 1đến 3 ngày cuối, tuỳ loại hình thi đấu để tăng dự trữ glycogen (Sherman, 1983).
Tăng dự trữ glycogen không những hữu ích đối với các cuộc thi kéo dài như chạy maratông, xe đạp đường trường..., mà còn có tác dụng với tất cả các cuộc thi đấu ngắn hơn, nhưng thi nhiều lần trong một đợt thi, nhằm giảm tiêu hao liên tục sau mỗi trận đấu.
Sự gia tăng dự trữ glycogen cao hơn mức bình thường cũng cải thiện kết quả thi đấu ở các môn có gắng sức lớn trong thời gian ngắn (Plaughan, 1990).
Yếu tố bất lợi duy nhất của việc tăng dự trữ glycogen là tăng trọng lượng cơ thể. Cảm giác "căng" cơ là do 1g glycogen gắn với 2,7g nước và 0,45mmol cacbonat kali. Ðiều này đặc biệt có ý nghĩa đối với các môn thể thao xếp hạng cân nặng vận động viên.
Bữa ăn cuối cùng trước trận đấu trên 2 giờ dựa chủ yếu vào chất tinh bột ít chất béo, ít đạm, ít xơ và dễ tiêu hoá, tránh gây khó chịu cho đường tiêu hoá. Thông thường các chuyên gia dinh dưỡng đề nghị sử dụng 200-300g chất tinh bột trong 4 giờ trước khi thi đấu; một số khác đề nghị 1g/kg thể trọng 1 giờ trước khi thi đấu và 4,5g/kg thể trọng trong 4 giờ trước đó. Các cuộc thi kéo dài trên 2 giờ cần duy trì cung cấp đường trong thời gian thi đấu. Việc ăn chất tinh bột ngay trước và trong thi đấu có tác dụng tốt được ghi nhận trong nhiều nghiên cứu gần đây. Các quan niệm cho rằng ăn đường trước trận đấu làm tăng insulin dẫn đến hạ đường huyết sau đó và ảnh hưởng đến kết quả thi đấu là không có cơ sở (Coyle, 1991).
Việc tiếp tục cung cấp các loại hydrat cacbon trong các cuộc thi kéo dài và ở cường độ cao nhằm đảm bảo đủ nhu cầu hydrat cacbon cho các giai đoạn sau của cuộc thi, khi dự trữ cạn kiệt dẫn đến mệt mỏi trầm trọng và giảm khả năng thi đấu. Tuy nhiên, nên cung cấp hydrat cacbon đều đặn trong suốt thời gian thi đấu (nếu cho phép) hơn là chờ cho tới khi có dấu hiệu mệt nhọc. Các loại đường như glucoza, sucroza, maltodextrin có hiệu quả tương tự nhau trong đề phòng sự mệt nhọc.
Trong đa số trường hợp, các loại đồ uống dạng lỏng dễ được chấp nhận hơn thức ăn đặc. Số lượng và nồng độ đường phụ thuộc vào từng tình huống, sở thích, thói quen và nhu cầu bù nước. Các loại nước uống có lượng đường cao (ưu trương) làm giảm hấp thu nước, do vậy trong nhiều trường hợp cần phân biệt vận động viên bị mệt nhọc là do thiếu nhiên liệu (glycogen) hay do bị thiếu nước để cung cấp loại nước có nồng độ phù hợp. Thông thường các thức ăn cho vận động viên "sport drinks" có lượng đường là 5-10%.
Khi cơ bắp, ví dụ cơ tứ đầu đùi, từ trạng thái nghỉ ngơi hoàn toàn chuyển sang hoạt động tối đa, thì tiêu hao năng lượng có thể tăng lên gấp 300 lần. Tương tự các loại động cơ, năng lượng dưới dạng hoá năng (xăng dầu) được chuyển thành cơ năng (xe chạy) và một phần toả nhiệt. Nguồn năng lượng tức thời cho cơ hoạt động là ATP (axit adenosin triphotphat).
Ảnh minh họa
Tuy nhiên nguồn dự trữ ATP của cơ rất ít (5,5mmol/kg) và tiêu hao nhanh trong thời gian hoạt động đầu tiên. Nó phải được tổng hợp liên tục khi các tế bào cơ chuyển hoá glycogen và các axit béo với sự có mặt của oxy (chuyển hoá ưa khí - aeroB1c metabolism). ATP còn có thể được tổng hợp bằng con đường yếm khí (không có oxy - anaeroB1c metabolism), và chỉ có glucoza, glycogen được sử dụng với hiệu quả thấp hơn, tạo ra 3 ATP thay vì 38, 39 ATP trên mỗi đơn vị glucoza được oxy hoá. Như vậy hai nguồn dự trữ năng lượng chính của cơ thể là glycogen và chất béo. Trong đó dự trữ glycogen trong cơ và gan chỉ ở mức độ hạn chế - một người nặng 70kg, bình thường có dự trữ glycogen là 300-500g tại cơ và 70-150g tại gan; ngược lại, dự trữ mỡ trong các hoạt động thể thao thực tế coi như là vô hạn, kể cả các vận động viên gầy nhất (7-10% mỡ). Sự mệt mỏi, kiệt sức chủ yếu liên quan đến sự cạn kiệt dự trữ glycogen.
Bảng 1. Dự trữ năng lượng dưới dạng mỡ và glycogen ở đàn ông nặng 70kg (Newsholme và Leech, 1983)
Nguồn dự trữ
|
E, năng lượng
|
Thời gian chạy (phút)
|
Cự ly (Km)
|
Mô mỡ
|
337.500
|
4.018
|
0,880 –1,008
|
Glucogen/gan
|
1.160
|
20
|
4,8-6,4
|
Glucogen/cơ
|
5.880
|
71
|
16-22,4
|
Glucoza/máu
|
48
|
<1
|
Các yếu tố quyết định việc sử dụng loại nhiên liệu nào - glycogen hay chất béo - phụ thuộc vào cường độ, thời gian tập ngắn hay dài, tình trạng tập luyện (đã quen hay lạ), chế độ ăn... (Hargreaves, 1991). Cường độ tập hay thi đấu càng cao như bóng đá, bóng rổ,... dựa chủ yếu vào nguồn glycogen. Thời gian thi đấu càng dài, như chạy maratông, đua xe đạp đường trường, tỷ lệ năng lượng do glycogen cung cấp giảm dần và chất béo cung cấp năng lượng ngày càng tăng lên, có thể tăng đến 50%. Ðiều đó là do lượng glycogen hao hụt dần và khả năng sử dụng axit béo tăng lên. Tập luyện buộc các cơ hoạt động nhận nhiều oxy từ máu đưa tới và quá trình chuyển hoá năng lượng ưa khí tăng, tạo điều kiện thuận lợi cho việc sử dụng thêm các axit béo tự do và tiết kiệm lượng glycogen chỉ có hạn chế trong cơ thể.
Tuy nhiên chất béo không phải là nguồn nhiên liệu duy nhất. Ngược lại, các loại hình đòi hỏi thời gian thi đấu cực ngắn, như nhảy cầu, nhảy xa, ném tạ, ... chủ yếu sử dụng ATP, creatin photphat. Nếu thời gian thi đấu dài hơn thì dựa hoàn toàn vào chuyển hoá yếm khí và sau đó là ưa khí glycogen. Thí dụ, chạy 2 phút ( tương đương 800m) thì 50% năng lượng từ chuyển hoá yếm khí và 50% năng lượng từ chuyển hoá ưa khí.
Cần chú ý là, bất cứ hoạt động nào được thực hiện đều sử dụng và làm hao hụt dự trữ glycogen. Cường độ hoạt động càng cao, thời gian hoạt động càng dài đòi hỏi càng nhiều dự trữ glycogen để liên tục tổng hợp ATP cung cấp đủ năng lượng cực lớn. Nếu không đủ năng lượng, cách duy nhất để cân bằng là giảm cường độ và thời gian vận động. Ðiều đó cũng có nghĩa là, nếu dự trữ glycogen không đầy đủ thì khả năng thực hiện vận động ở mức độ cao sẽ bị ảnh hưởng. Ðiều này không chỉ quan trọng trong các cuộc thi đấu, mà còn cần thiết cho các đợt tập luyện, vì chỉ có qua tập luyện thành tích mới được nâng dần lên và điều đó chỉ thực hiện được nếu cơ thể dự trữ tốt glycogen trước mỗi đợt tập luyện.
2. Vai trò của glycogen trong tập luyện
Khi tập luyện glycogen trong các cơ hoạt động bị hao hụt dần, trong khi số lượng dự trữ chỉ có hạn, do vậy dự trữ glycogen cần được phục hồi trước mỗi đợt tập luyện. Nếu dự trữ glycogen chưa được phục hồi, đợt tập luyện bắt đầu với lượng dự trữ glycogen thấp, chắc chắn chất lượng và số lượng bài tập sẽ giảm.
Nếu việc phục hồi dự trữ glycogen không được thực hiện liên tục sau nhiều buổi tập sẽ dẫn đến cạn kiệt glycogen trong cơ và việc thực hiện các bài tập nhẹ nhàng nhất cũng trở nên khó khăn. Cảm giác mệt mỏi, đau nhức cơ, hoặc không phục hồi sức lực giữa các đợt huấn luyện và hội chứng tập luyện quá sức có thể hoàn toàn do việc cố gắng tập luyện mà thiếu sự tái dự trữ glycogen đầy đủ trước các đợt tập.
Vai trò quan trọng của glycogen và đường huyết (glucoza/máu) trong hoạt động thể lực được chứng minh qua nhiều công trình nghiên cứu. Người ta thấy rằng, dự trữ glycogen/cơ và việc cung cấp glucoza trong quá trình tập luyện giúp tăng cường độ và thời gian thực hiện vận động: do vậy việc phục hồi dự trữ glycogen sau các đợt tập luyện là quá trình chuyển hoá chủ yếu trong giai đoạn phục hồi của cơ thể. Tập luyện kích thích tổng hợp glycogen tại cơ, nhưng việc phục hồi dự trữ trong giai đoạn phục hồi của cơ thể phụ thuộc vào lượng tinh bột trong thức ăn (Hargreaves, 1991).
3. Các yếu tố ảnh hưởng đến tốc độ phục hồi dự trữ glycogen
Yếu tố trước tiên ảnh hưởng đến tốc độ tái tổng hợp glycogen là loại và số lượng hydrat cacbon ăn vào cũng như thời gian ăn vào. Glycogen/cơ tiêu hao toàn bộ sau 2-3 giờ hoạt động liên tục ở cường độ khá cao (60-80% VO2max), hoặc sau 15-30 phút hoạt động ở cường độ quá cao (90-130%VO2 max) với 1-5 phút hoạt động và nghỉ, lại hoạt động tiếp (khúc côn cầu... ) (Coyle, 1991.)
Vận động viên tập quyền hằng ngày cần tăng lượng tinh bột ăn vào để tránh tình trạng mệt mỏi, tập luyện quá sức, thực hiện vận động kém.
Glycogen dự trữ trong cơ với tốc độ khoảng 5% mỗi giờ, vì vậy sau mỗi đợt tập hết sức cần 20 giờ để hồi phục hoàn toàn. Trong 2 giờ đầu sau tập luyện glycogen tổng hợp với tốc độ nhanh 7%/1giờ. Vận động viên cần nhận đủ lượng tinh bột trong thời gian này. Thông thường là 50g cho người nặng 70kg trong vòng 2 giờ đầu (điều chỉnh theo trọng lượng cơ thể).
4. Khuyến nghị về chế độ ăn khi tập luyện
Hầu hết các chuyên gia về dinh dưỡng thể thao đều khuyến nghị lượng hydrat cacbon nên chiếm 60-70% năng lượng khẩu phần. Ðối với vận động viên tập luyện nặng nhu cầu hydrat cacbon là 8-10g/kg trọng lượng cơ thể. Ðiều này cũng phù hợp trong dinh dưỡng hợp lý cho tất cả mọi người, nhất là thanh niên.
Các loại tinh bột hay đường khác nhau có tác dụng tái dự trữ glycogen tương tự nhau.
Vận động viên tập luyện nặng và kéo dài thì nhu cầu năng lượng rất cao, nếu ăn nhiều tinh bột sẽ không nhận đủ lượng do tinh bột hút nước, cồng kềnh mà ít năng lượng, nên được khuyến cáo dùng nhiều đường, thường dưới dạng nước ngọt để cung cấp đủ năng lượng. Ví dụ, vận động viên đua xe đạp đường trường, nhu cầu năng lượng lên đến 5.000-6000 kcal/ngày, trong đó 50% nhu cầu được cung cấp bởi các loại nước ngọt.
Vận động viên có nhu cầu năng lượng thấp hơn thì nguồn hydrat cacbon nên là tinh bột, trái cây và nước ép trái cây là chính. Ða số vận động viên không chấp nhận thức ăn đặc ngay sau tập luyện do vậy các loại nước uống có glucoza, sucroza hoặc maltodextrin 6-10% trong 2 giờ đầu dễ được chấp nhận hơn. Sau đó cần tiếp tục cung cấp 50g hydrat cacbon/2 giờ hoặc thực tế hơn là thay bằng bữa ăn có đầy đủ lượng tinh bột cho thời gian dài hơn. Ví dụ, 150g/6giờ hoặc 250g/10 giờ (Coyle, 1991).
Tuy nhiên, việc hướng dẫn chế độ ăn cần phù hợp với thói quen ăn uống của từng vận động viên thì chế độ ăn mới được tuân thủ. Ngoài ra, vận động viên cũng gặp nhiều khó khăn trong việc mua - chế biến - tồn trữ - mang đồ ăn - ăn số lượng thức ăn lớn trong quá trình tập luyện. Thông thường tập 2 buổi mỗi ngày, mỗi buổi khoảng 2 giờ và không tập trước 1-2 giờ sau bữa ăn chính. Nhiều khi vận động viên không sắp xếp được về mặt giờ giấc và phải bỏ bữa. Các thức ăn chế biến sẵn giàu năng lượng, thuận tiện trong sử dụng sẽ hỗ trợ đắc lực cho việc đảm bảo đủ nhu cầu.
5. Khuyến nghị trong quá trình chuẩn bị thi đấu
Vấn đề dinh dưỡng quan trọng nhất đối với giai đoạn này là đảm bảo cho vận động viên phục hồi hoàn toàn sau giai đoạn tập luyện với lượng dự trữ glycogen ít nhất là bằng mức bình thường trước trận đấu.
Người ta đưa ra nhiều chế độ ăn và tập luyện khác nhau để năng lượng dự trữ glycogen/cơ lên cao hơn mức bình thường, cao nhất có thể tới 2000 là có thể đạt kết quả tối đa trong thi đấu dựa vào cơ chế "bù quá mức" (super compensation) của cơ.
Phương pháp cổ điển là, một tuần trước khi thi đấu cho vận động viên tập hết sức 2 lần/ngày; tiếp theo 3 ngày cho ăn thực đơn nghèo hyđrat cacbon (20 30%) và giàu lipid (40-50%); tập vừa phải dẫn đến sự cạn kiệt dự trữ glycogen. Trong 4 ngày trước khi thi đấu cho chế độ ăn giàu hydrat cacbon (75-80%). Ba ngày đầu tập nhẹ nhàng và ngày cuối cùng nghỉ tập hoàn toàn giúp tăng dự trữ glycogen (Bergstrom et al 1967, Astrand, 1967).
Tuy nhiên gần đây nhiều tác giả cho rằng, phương pháp này nếu việc tổ chức và quản lý ăn uống không chặt chẽ sẽ dẫn đến dung nạp glycogen không đủ (Wootton et al 1981). Do vậy nhiều nhà dinh dưỡng học thể thao khuyến cáo các vận động viên hàng ngày nên ăn chế độ ăn đủ hydrat cacbon (60-70%) và lên kế hoạch tập luyện như đã nêu trên, cùng với chế độ ăn giàu hydrat cacbon (75-80%) trong 1đến 3 ngày cuối, tuỳ loại hình thi đấu để tăng dự trữ glycogen (Sherman, 1983).
Tăng dự trữ glycogen không những hữu ích đối với các cuộc thi kéo dài như chạy maratông, xe đạp đường trường..., mà còn có tác dụng với tất cả các cuộc thi đấu ngắn hơn, nhưng thi nhiều lần trong một đợt thi, nhằm giảm tiêu hao liên tục sau mỗi trận đấu.
Sự gia tăng dự trữ glycogen cao hơn mức bình thường cũng cải thiện kết quả thi đấu ở các môn có gắng sức lớn trong thời gian ngắn (Plaughan, 1990).
Yếu tố bất lợi duy nhất của việc tăng dự trữ glycogen là tăng trọng lượng cơ thể. Cảm giác "căng" cơ là do 1g glycogen gắn với 2,7g nước và 0,45mmol cacbonat kali. Ðiều này đặc biệt có ý nghĩa đối với các môn thể thao xếp hạng cân nặng vận động viên.
Bữa ăn cuối cùng trước trận đấu trên 2 giờ dựa chủ yếu vào chất tinh bột ít chất béo, ít đạm, ít xơ và dễ tiêu hoá, tránh gây khó chịu cho đường tiêu hoá. Thông thường các chuyên gia dinh dưỡng đề nghị sử dụng 200-300g chất tinh bột trong 4 giờ trước khi thi đấu; một số khác đề nghị 1g/kg thể trọng 1 giờ trước khi thi đấu và 4,5g/kg thể trọng trong 4 giờ trước đó. Các cuộc thi kéo dài trên 2 giờ cần duy trì cung cấp đường trong thời gian thi đấu. Việc ăn chất tinh bột ngay trước và trong thi đấu có tác dụng tốt được ghi nhận trong nhiều nghiên cứu gần đây. Các quan niệm cho rằng ăn đường trước trận đấu làm tăng insulin dẫn đến hạ đường huyết sau đó và ảnh hưởng đến kết quả thi đấu là không có cơ sở (Coyle, 1991).
Việc tiếp tục cung cấp các loại hydrat cacbon trong các cuộc thi kéo dài và ở cường độ cao nhằm đảm bảo đủ nhu cầu hydrat cacbon cho các giai đoạn sau của cuộc thi, khi dự trữ cạn kiệt dẫn đến mệt mỏi trầm trọng và giảm khả năng thi đấu. Tuy nhiên, nên cung cấp hydrat cacbon đều đặn trong suốt thời gian thi đấu (nếu cho phép) hơn là chờ cho tới khi có dấu hiệu mệt nhọc. Các loại đường như glucoza, sucroza, maltodextrin có hiệu quả tương tự nhau trong đề phòng sự mệt nhọc.
Trong đa số trường hợp, các loại đồ uống dạng lỏng dễ được chấp nhận hơn thức ăn đặc. Số lượng và nồng độ đường phụ thuộc vào từng tình huống, sở thích, thói quen và nhu cầu bù nước. Các loại nước uống có lượng đường cao (ưu trương) làm giảm hấp thu nước, do vậy trong nhiều trường hợp cần phân biệt vận động viên bị mệt nhọc là do thiếu nhiên liệu (glycogen) hay do bị thiếu nước để cung cấp loại nước có nồng độ phù hợp. Thông thường các thức ăn cho vận động viên "sport drinks" có lượng đường là 5-10%.
PHÁP:THÔI MIÊN ĐỂ GIÚP NẠN NHÂN BỚT ĐAU
Các nhân viên cứu hộ của tỉnh Bas-Rhin thuộc vùng Alsace (Pháp) được huấn luyện cách thôi miên để giúp nạn nhân quên đi đau đớn khi bị tai nạn giao thông.
Ảnh minh họa
Theo AFP, 120 lính cứu hộ của tỉnh này được bố trí theo học khóa thôi miên với những kỹ thuật cơ bản. - Bà Cécile Colas-Nguyen, trưởng điều dưỡng của đội cứu hỏa Bas - Rhin đồng thời là huấn luyện viên về kỹ thuật thôi miên y khoa, cho biết: “Đó là những lời nói, cử chỉ, kỹ thuật hít thở mà nhân viên cứu hộ sẽ giúp nạn nhân quên đi đau đớn và lo lắng”.
Trong khi nhân viên cứu hộ chuẩn bị dịch truyền cùng các dụng cụ để đưa nạn nhân ra khỏi xe hơi gặp nạn thì nhân viên thôi miên sẽ cố gắng trao đổi với nạn nhân nhằm chuyển sự chú ý của họ ra khỏi cảnh tai nạn vừa xảy ra. Các nhân viên thôi miên chỉ sử dụng từ “thoải mái” thay cho “đau đớn” để giúp nạn nhân thả lỏng cơ thể và nghĩ về một điều gì đó mà họ thích.
Ông David Ernenwein, đại diện của Trung tâm cứu hộ Haguenau, hoàn toàn “bị thuyết phục” với phương pháp này khi cho rằng “đây là những sơ cứu hữu ích đầu tiên có thể giảm đau đớn cho nạn nhân”.
Ảnh minh họa
Theo AFP, 120 lính cứu hộ của tỉnh này được bố trí theo học khóa thôi miên với những kỹ thuật cơ bản. - Bà Cécile Colas-Nguyen, trưởng điều dưỡng của đội cứu hỏa Bas - Rhin đồng thời là huấn luyện viên về kỹ thuật thôi miên y khoa, cho biết: “Đó là những lời nói, cử chỉ, kỹ thuật hít thở mà nhân viên cứu hộ sẽ giúp nạn nhân quên đi đau đớn và lo lắng”.
Trong khi nhân viên cứu hộ chuẩn bị dịch truyền cùng các dụng cụ để đưa nạn nhân ra khỏi xe hơi gặp nạn thì nhân viên thôi miên sẽ cố gắng trao đổi với nạn nhân nhằm chuyển sự chú ý của họ ra khỏi cảnh tai nạn vừa xảy ra. Các nhân viên thôi miên chỉ sử dụng từ “thoải mái” thay cho “đau đớn” để giúp nạn nhân thả lỏng cơ thể và nghĩ về một điều gì đó mà họ thích.
Ông David Ernenwein, đại diện của Trung tâm cứu hộ Haguenau, hoàn toàn “bị thuyết phục” với phương pháp này khi cho rằng “đây là những sơ cứu hữu ích đầu tiên có thể giảm đau đớn cho nạn nhân”.
KEM CHỐNG NẮNG NGĂN DA LÃO HÓA
Các nhà khoa học vừa phát hiện một bí quyết đơn giản giúp làn da trông tươi trẻ hơn: thoa kem chống nắng hàng ngày.
Kem chống nắng không chỉ là lá chắn giúp bảo vệ da trước các tia cực tím mà còn góp phần ngăn ngừa sự xuất hiện của một số dấu hiệu dễ thấy của tuổi trên da. Theo nghiên cứu mới của các nhà khoa học Australia, những người thoa kem chống nắng đều đặn hàng ngày có ít nếp nhăn trên da hơn so với những người không sử dụng nó thường xuyên.
Nhóm nghiên cứu đã tiến hành thí nghiệm đối với hơn 900 người Australia trong độ tuổi từ 25-55. Một nửa trong số này được yêu cầu thoa kem chống nắng có chỉ số bảo vệ SPF ít nhất là 15 vào vùng đầu, cổ, cánh tay và bàn tay mỗi buổi sáng, trong khi số còn lại được chỉ dẫn dùng kem chống nắng bất cứ khi nào họ thích.
Ở đầu nghiên cứu, các nhà khoa học đã đánh giá mức độ lão hóa ở trên mu bàn tay của tất cả những người tình nguyện theo thang điểm 6. Việc tái đánh giá cùng các đối tượng nghiên cứu sẽ diễn ra sau đó 4 năm rưỡi.
Kết quả thu được hé lộ, những người dùng kem chống nắng đều đặn hàng ngày có da bị lão hóa ít hơn 24% so với cả đàn ông và phụ nữ thỉnh thoảng mới dùng nó.
Mối liên hệ này vẫn được giữ nguyên ngay cả khi nhóm nghiên cứu xem xét các yếu tố khác, có khả năng ảnh hưởng tới sắc diện da, chẳng hạn như việc hút thuốc, tiền sử tiếp xúc với ánh nắng, màu sắc da và việc sử dụng những phương pháp chống nắng khác như đội mũ.
Các nhà nghiên cứu cũng cân nhắc cả việc liệu những người nạp thêm beta-caroten, một thành phẩn thực phẩm bổ sung giàu chất chống ôxy hóa có ít bị nếp nhăn và tác hại của ánh nắng hơn so với những người dùng giả được hay không. Tuy nhiên, thành phần bổ sung này không ảnh hưởng gì tới quá trình lão hóa da.
Tiến sĩ Adele Green, tác giả nghiên cứu đến từ Viện nghiên cứu Y học Queensland ở Brisbane, Australia cho biết thêm rằng, việc thoa kem chống nắng thường xuyên sẽ giúp thanh niên và người trung niên dưới 55 tuổi hưởng lợi vì loại mỹ phẩm này giúp ngăn chặn sự lão hóa tiến triển trên da cũng như giảm nguy cơ ung thư da về dài hạn.
Mặc dù không tiến hành nghiên cứu đối với nhóm người trên 55 tuổi nhưng bà Green nhận định, họ có thể hưởng lợi từ việc dùng kem chống nắng ngăn chặn các thay đổi lão hóa tiến triển trên da. Dẫu vậy, nhà nghiên cứu này thừa nhận hiện thiếu bằng chứng chắc chắn về điều này.
Kem chống nắng không chỉ là lá chắn giúp bảo vệ da trước các tia cực tím mà còn góp phần ngăn ngừa sự xuất hiện của một số dấu hiệu dễ thấy của tuổi trên da. Theo nghiên cứu mới của các nhà khoa học Australia, những người thoa kem chống nắng đều đặn hàng ngày có ít nếp nhăn trên da hơn so với những người không sử dụng nó thường xuyên.
Ảnh minh họa
Ở đầu nghiên cứu, các nhà khoa học đã đánh giá mức độ lão hóa ở trên mu bàn tay của tất cả những người tình nguyện theo thang điểm 6. Việc tái đánh giá cùng các đối tượng nghiên cứu sẽ diễn ra sau đó 4 năm rưỡi.
Kết quả thu được hé lộ, những người dùng kem chống nắng đều đặn hàng ngày có da bị lão hóa ít hơn 24% so với cả đàn ông và phụ nữ thỉnh thoảng mới dùng nó.
Mối liên hệ này vẫn được giữ nguyên ngay cả khi nhóm nghiên cứu xem xét các yếu tố khác, có khả năng ảnh hưởng tới sắc diện da, chẳng hạn như việc hút thuốc, tiền sử tiếp xúc với ánh nắng, màu sắc da và việc sử dụng những phương pháp chống nắng khác như đội mũ.
Các nhà nghiên cứu cũng cân nhắc cả việc liệu những người nạp thêm beta-caroten, một thành phẩn thực phẩm bổ sung giàu chất chống ôxy hóa có ít bị nếp nhăn và tác hại của ánh nắng hơn so với những người dùng giả được hay không. Tuy nhiên, thành phần bổ sung này không ảnh hưởng gì tới quá trình lão hóa da.
Tiến sĩ Adele Green, tác giả nghiên cứu đến từ Viện nghiên cứu Y học Queensland ở Brisbane, Australia cho biết thêm rằng, việc thoa kem chống nắng thường xuyên sẽ giúp thanh niên và người trung niên dưới 55 tuổi hưởng lợi vì loại mỹ phẩm này giúp ngăn chặn sự lão hóa tiến triển trên da cũng như giảm nguy cơ ung thư da về dài hạn.
Mặc dù không tiến hành nghiên cứu đối với nhóm người trên 55 tuổi nhưng bà Green nhận định, họ có thể hưởng lợi từ việc dùng kem chống nắng ngăn chặn các thay đổi lão hóa tiến triển trên da. Dẫu vậy, nhà nghiên cứu này thừa nhận hiện thiếu bằng chứng chắc chắn về điều này.
Thứ Ba, 16 tháng 7, 2013
NHẠC BUỒN GIÚP VƯỢT QUA SỰ ĐỔ VỠ
Ảnh minh họa
Nhiều người thích nghe nhạc buồn khi họ gặp thất vọng.Theo nghiên cứu từ Trường Đại học California, chia tay mối tình là một điều khó khăn nhưng con người có thể vượt qua dễ dàng hơn nếu nghe một bản nhạc buồn hay xem một bộ phim tình cảm.
Những người gặp vấn đề trong tình cảm nhiều khả năng thích những thứ phản ánh đúng tâm trạng tiêu cực của họ. Khi khảo sát, nghiên cứu đã nhận thấy nhiều người thích nghe nhạc buồn khi họ gặp thất vọng.
Một người bạn thông cảm, âm nhạc, phim ảnh, tranh vẽ, hay tiểu thuyết tương thích với tâm trạng và cảm xúc hiện tại của con người được đánh giá cao hơn.
THỜI TIẾT LẠNH CÓ THỂ LÀM TĂNG HUYẾT ÁP
Giới nghiên cứu Scotland vừa phát hiện mối liên quan giữa thời tiết lạnh, nắng ít và mưa nhiều với nguy cơ tăng huyết áp.
Theo trang tin Scotsman, họ còn phát hiện những bệnh nhân có huyết áp nhạy cảm với thời tiết có nguy cơ tử vong tăng tới 35%.
Để có kết luận trên, các nhà khoa học tại Trường Đại học Glasgow phân tích 169.000 số đo huyết áp của 16.000 bệnh nhân từ năm 1970 đến 2011.
Kết quả cho thấy trung bình, chỉ số huyết áp ở các bệnh nhân giảm 2%/năm nếu thời tiết trong 2 lần họ đi khám liên tiếp tương tự nhau.
Trong khi đó, nếu nhiệt độ thay đổi từ mức cao nhất đến mức thấp nhất trong 2 lần khám liên tiếp, huyết áp của bệnh nhân tăng 2,1%.
Ngoài ra, mức độ ánh sáng mặt trời thấp dẫn đến việc tăng huyết áp 2,3%, và trời có nhiều mưa cũng khiến chỉ số huyết áp tăng 0,8%.
Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu nhận thấy rằng nhiều bệnh nhân chịu ảnh hưởng khác nhau của thời tiết đối với huyết áp.
Nghiên cứu cho thấy những người bệnh “nhạy cảm với nhiệt độ” kiểm soát huyết áp tệ nhất và có nguy cơ tử vong tăng tới 35%, so với những bệnh nhân khác.
Các nhà khoa học lý giải rằng vào thời tiết tốt, bệnh nhân cảm thấy dễ chịu nên huyết áp giảm, trong khi thời tiết lạnh làm các mạch máu co lại, khiến huyết áp tăng.
Từ đó, họ đề nghị các bác sĩ cần lưu ý thời tiết khi đo huyết áp bệnh nhân. Nếu phát hiện bệnh nhân thuộc dạng nhạy cảm với nhiệt độ, bác sĩ sẽ có cách điều trị hợp lý.
Báo Daily Mail dẫn lời một chuyên gia về huyết áp ở Anh cho rằng bệnh nhân vẫn có thể kiểm soát huyết áp theo kiểu truyền thống như ăn nhiều rau quả, trái cây, ít ăn mặn, hạn chế uống rượu bia, tập thể dục nhiều hơn.
![]() |
| Ảnh minh họa |
Để có kết luận trên, các nhà khoa học tại Trường Đại học Glasgow phân tích 169.000 số đo huyết áp của 16.000 bệnh nhân từ năm 1970 đến 2011.
Kết quả cho thấy trung bình, chỉ số huyết áp ở các bệnh nhân giảm 2%/năm nếu thời tiết trong 2 lần họ đi khám liên tiếp tương tự nhau.
Trong khi đó, nếu nhiệt độ thay đổi từ mức cao nhất đến mức thấp nhất trong 2 lần khám liên tiếp, huyết áp của bệnh nhân tăng 2,1%.
Ngoài ra, mức độ ánh sáng mặt trời thấp dẫn đến việc tăng huyết áp 2,3%, và trời có nhiều mưa cũng khiến chỉ số huyết áp tăng 0,8%.
Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu nhận thấy rằng nhiều bệnh nhân chịu ảnh hưởng khác nhau của thời tiết đối với huyết áp.
Nghiên cứu cho thấy những người bệnh “nhạy cảm với nhiệt độ” kiểm soát huyết áp tệ nhất và có nguy cơ tử vong tăng tới 35%, so với những bệnh nhân khác.
Các nhà khoa học lý giải rằng vào thời tiết tốt, bệnh nhân cảm thấy dễ chịu nên huyết áp giảm, trong khi thời tiết lạnh làm các mạch máu co lại, khiến huyết áp tăng.
Từ đó, họ đề nghị các bác sĩ cần lưu ý thời tiết khi đo huyết áp bệnh nhân. Nếu phát hiện bệnh nhân thuộc dạng nhạy cảm với nhiệt độ, bác sĩ sẽ có cách điều trị hợp lý.
Báo Daily Mail dẫn lời một chuyên gia về huyết áp ở Anh cho rằng bệnh nhân vẫn có thể kiểm soát huyết áp theo kiểu truyền thống như ăn nhiều rau quả, trái cây, ít ăn mặn, hạn chế uống rượu bia, tập thể dục nhiều hơn.
ĂN NHIỀU THỊT BÒ VÀ LỢN LÀM TĂNG NGUY CƠ TIỂU ĐƯỜNG

Ảnh minh họa
Báo The Japan Times đưa tin ngày 22/5, các chuyên gia Nhật Bản nói rằng đàn ông ăn nhiều thịt bò hoặc thịt lợn mỗi ngày đối mặt với sự gia tăng nguy cơ mắc bệnh tiểu đường.Theo nhóm nghiên cứu thuộc Trung tâm Sức khỏe Toàn diện và Y khoa Quốc gia và Trung tâm Ung thư Quốc gia (Nhật Bản), nguy cơ tương tự không được ghi nhận ở phụ nữ.
Chuyên gia cao cấp Kayo Kurotani thuộc Trung tâm Sức khỏe Toàn diện và Y khoa Quốc gia khuyến nghị: “Sẽ tốt hơn cho những người ăn nhiều thịt bò và thịt lợn nếu họ thay thế một phần bằng thịt gà và cá”.
Nhóm nghiên cứu đã tiến hành một cuộc điều tra kéo dài 5 năm vào cuối thập niên 1990 về việc ăn thịt trên khoảng 64.000 người trong độ tuổi từ 45-75 tại 11 khu vực trên toàn nước Nhật.
Khoảng 1.200 người được chẩn đoán mắc bệnh tiểu đường trong thời gian nghiên cứu.
Nhóm chuyên gia đã phân loại các đối tượng trên thành 4 nhóm dựa trên lượng thịt hấp thu. Ở những người đàn ông, nhóm ăn nhiều thịt nhất có lượng tiêu thụ bình quân là 83g và nguy cơ mắc bệnh tiểu đường ở nhóm này cao hơn 42% so với nhóm ăn ít thịt nhất, với lượng tiêu thụ bình quân là 15g.
ÂM NHẠC GIÚP TĂNG NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG
Môi trường làm việc có âm thanh như tiếng nhạc hoặc tiếng trò chuyện văng vẳng tốt hơn là sự im lặng trong việc kích thích khả năng sáng tạo trong công việc.
Mức âm thanh lý tưởng cho công việc là 70dB, tương đương âm thanh của chiếc xe hơi đi ngang qua hoặc trong một quán cà phê.
Theo Hãng tin UPI, các nhà khoa học thuộc Đại học Illinois (Mỹ) rút ra kết luận này sau khi nghiên cứu cách não xử lý thông tin trong môi trường có tiếng ồn ở nhiều mức độ khác nhau.
Cụ thể, không đủ tiếng ồn, trí não có xu hướng “tê liệt”; quá ồn thì sự xao lãng cũng tăng theo; mức độ vừa phải cỡ như âm nhạc thì tốt cho khả năng sáng tạo, theo trưởng nhóm nghiên cứu, giáo sư Ravi Mehta: “Tiếng ồn ở mức độ vừa phải giúp nâng cao khả năng giải quyết vấn đề một cách sáng tạo”.
![]() |
| Minh họa |
Theo Hãng tin UPI, các nhà khoa học thuộc Đại học Illinois (Mỹ) rút ra kết luận này sau khi nghiên cứu cách não xử lý thông tin trong môi trường có tiếng ồn ở nhiều mức độ khác nhau.
Cụ thể, không đủ tiếng ồn, trí não có xu hướng “tê liệt”; quá ồn thì sự xao lãng cũng tăng theo; mức độ vừa phải cỡ như âm nhạc thì tốt cho khả năng sáng tạo, theo trưởng nhóm nghiên cứu, giáo sư Ravi Mehta: “Tiếng ồn ở mức độ vừa phải giúp nâng cao khả năng giải quyết vấn đề một cách sáng tạo”.
PHÁT HIỆN VI KHUẨN GIÚP GIẢM CÂN
Ảnh minh họaCác chuyên gia Bỉ qua nghiên cứu một loại vi khuẩn đường ruột đã phát hiện, môi trường dịch lỏng cấy loại vi khuẩn này có thể cải thiện đáng kể tình trạng sức khỏe của những con chuột béo phì. Nghiên cứu liên quan được đăng trên tạp chí của “Viện khoa học quốc gia Mỹ”.
Các nhà nghiên cứu đã cho những con chuột béo gấp 2, 3 lần bình thường ăn loại vi khuẩn có tên là Akkermansia muciniphila. Trong tình trạng không thay đổi về lượng thức ăn cung cấp, thể trọng lũ chuột được thí nghiệm đã giảm đi gần một nửa, đồng thời trạng thái điển hình của bệnh tiểu đường týp 2 - mức độ cơ thể kháng insulin - cũng thấp xuống.
Loại vi khuẩn Akkermansia muciniphila chiếm 3-5% vi khuẩn đường ruột, nhưng ở những người béo loại vi khuẩn này lại ít. Nghiên cứu cho thấy, tăng vi khuẩn này sẽ làm dày lên hàng rào niêm dịch (chất nhầy) trong ruột, từ đó giúp ngăn cản một số vật chất qua ruột thẩm thấu vào máu, cải thiện tín hiệu hóa học đến từ hệ thống tiêu hóa, từ đó giúp các bộ phận khác của cơ thể nâng cao hiệu quả xử lý chất béo. Ngoài ra, nếu tăng thêm chất xơ trong chế độ ăn, sẽ giúp tăng số lượng loại vi khuẩn trên, và cũng sẽ nhận được kết quả tương tự.
Theo các chuyên gia, trong ruột có hàng nghìn loại vi khuẩn, nhưng chỉ có một loại có thể tạo ra hiệu quả giảm cân. Đây là bước đầu trong nghiên cứu sử dụng vi khuẩn để trị liệu bệnh tiểu đường týp 2 và tình trạng béo phì. Trong tương lai, các liệu pháp trị bệnh bằng vi khuẩn sẽ được áp dụng.
ĐÁNH RĂNG CÓ THỂ PHÒNG BỆNH ALZHEIMER
Vi khuẩn bệnh nha chu có thể đi vào đại não dẫn đến viêm và tổn hại não.
Theo Báo sáng Singapore cho biết, trong một nghiên cứu của Mỹ đã phát hiện, người thường xuyên đánh răng, giữ cho răng và chân răng mạnh khỏe thì nguy cơ mắc chứng Alzheimer tương đối thấp.
Đại học California (University of California) của Mỹ đã tiến hành điều tra đối với 5.500 người già, phần lớn là những người da trắng, sự giáo dục tương đối tốt, tương đối giàu có.
Sau 18 năm, chuyên viên nghiên cứu đã dựa vào những báo cáo về những cuộc nói chuyện, ghi chú chữa trị bệnh tật và tử vong xác định được rằng, trong số đó có 1.145 người mắc chứng Alzheimer.
Theo đó những người trung bình mỗi ngày đánh răng không đến 1 lần khả năng mắc bệnh Alzheimer cao đến 65%.
Nghiên cứu đã phát hiện, những vi khuẩn của bệnh viêm nha chu có thể dẫn đến một số bệnh viêm loét và cũng có quan hệ với một số bệnh khác như bệnh tim, trúng phong, tiểu đường.
Bà Hill nói, có một số điều tra phát hiện, đem so sánh với những người bình thường thì những người mắc chứng Alzheimer có vi khuẩn bệnh nha chu trong đại não tương đối nhiều. Bà nói, có thể thấy rằng vi khuẩn bệnh nha chu có thể đi vào đại não dẫn đến viêm và tổn hại não.
Báo cáo nghiên cứu này của trường Đại học California đã được đăng trên “Tạp chí hội y học người già Mỹ”.
![]() |
| Thường xuyên đánh răng thì nguy cơ mắc chứng Alzheimer tương đối thấp |
Đại học California (University of California) của Mỹ đã tiến hành điều tra đối với 5.500 người già, phần lớn là những người da trắng, sự giáo dục tương đối tốt, tương đối giàu có.
Sau 18 năm, chuyên viên nghiên cứu đã dựa vào những báo cáo về những cuộc nói chuyện, ghi chú chữa trị bệnh tật và tử vong xác định được rằng, trong số đó có 1.145 người mắc chứng Alzheimer.
Theo đó những người trung bình mỗi ngày đánh răng không đến 1 lần khả năng mắc bệnh Alzheimer cao đến 65%.
Nghiên cứu đã phát hiện, những vi khuẩn của bệnh viêm nha chu có thể dẫn đến một số bệnh viêm loét và cũng có quan hệ với một số bệnh khác như bệnh tim, trúng phong, tiểu đường.
Bà Hill nói, có một số điều tra phát hiện, đem so sánh với những người bình thường thì những người mắc chứng Alzheimer có vi khuẩn bệnh nha chu trong đại não tương đối nhiều. Bà nói, có thể thấy rằng vi khuẩn bệnh nha chu có thể đi vào đại não dẫn đến viêm và tổn hại não.
Báo cáo nghiên cứu này của trường Đại học California đã được đăng trên “Tạp chí hội y học người già Mỹ”.
VITAMIN D GIÚP GIẢM BỆNH ĐƯỜNG RUỘT CROHN
Vitamin D thường có trong cá hồi, phô mai, lòng đỏ trứng gà, gan bò và sữa.
Bổ sung vitamin D có thể giúp những người mắc bệnh đường ruột Crohn vượt qua được tình trạng mệt mỏi và suy giảm cơ bắp.
Trưởng nhóm nghiên cứu Tara Raftery thuộc Trường cao đẳng Trinity ở Dublin (Ireland) cho biết, loại vitamin này còn giúp giảm đáng kể cơn mệt mỏi, cải thiện chất lượng cuộc sống và nâng cao khả năng thực hiện các hoạt động hàng ngày.
Theo trang sức khỏe Everyday Heath, các tình nguyện viên mỗi ngày được cho bổ sung 2.000 IU (đơn vị quốc tế) vitamin D hoặc dùng giả dược trong suốt 3 tháng. Ngoài việc thúc đẩy tăng trưởng cơ bắp, vitamin D còn giúp cải thiện chức năng miễn dịch, giảm viêm sưng... Vitamin D thường có trong các loại cá béo như cá hồi, phô mai, lòng đỏ trứng gà, gan bò và sữa.
Tắm nắng vào buổi sáng mỗi ngày trong khoảng 10-15 phút cũng giúp cơ thể tổng hợp vitamin D. Bệnh Crohn là một dạng bệnh viêm đường ruột, gây viêm ở các phần của đường tiêu hóa, có thể dẫn đến tiêu chảy, đau bụng và chuột rút.
![]() |
| Ảnh minh họa |
Trưởng nhóm nghiên cứu Tara Raftery thuộc Trường cao đẳng Trinity ở Dublin (Ireland) cho biết, loại vitamin này còn giúp giảm đáng kể cơn mệt mỏi, cải thiện chất lượng cuộc sống và nâng cao khả năng thực hiện các hoạt động hàng ngày.
Theo trang sức khỏe Everyday Heath, các tình nguyện viên mỗi ngày được cho bổ sung 2.000 IU (đơn vị quốc tế) vitamin D hoặc dùng giả dược trong suốt 3 tháng. Ngoài việc thúc đẩy tăng trưởng cơ bắp, vitamin D còn giúp cải thiện chức năng miễn dịch, giảm viêm sưng... Vitamin D thường có trong các loại cá béo như cá hồi, phô mai, lòng đỏ trứng gà, gan bò và sữa.
Tắm nắng vào buổi sáng mỗi ngày trong khoảng 10-15 phút cũng giúp cơ thể tổng hợp vitamin D. Bệnh Crohn là một dạng bệnh viêm đường ruột, gây viêm ở các phần của đường tiêu hóa, có thể dẫn đến tiêu chảy, đau bụng và chuột rút.
TRÀ,CÀ PHÊ " ĐÁNH THỨC" GEN UNG THƯ
Trà, cà phê đứng đầu danh sách những loại thực phẩm “đánh thức” gen ung thư.
Nghiên cứu được thực hiện bởi các nhà khoa học thuộc phòng thí nghiệm Trung tâm Ung bướu Kimmel Đại học Johns Hopkins. Họ tập trung tìm hiểu các loại thực phẩm có khả năng đánh thức p53 - một loại gen liên kết gây các bệnh ung thư tai quái. Gen p53 hoạt động khi ADN trong cơ thể bị suy yếu. ADN bị tổn thương càng nhiều, mức độ hoạt động của p53 càng cao.
Và kết quả thật đáng ngạc nhiên với 3 loại thực phẩm dẫn đầu đều là những thứ chúng ta sử dụng hàng ngày: Trà xanh (hoặc đen), cà phê và một loại hương liệu hóa học để sản xuất xúc xích, thịt xông khói, các loại đồ chay giả thịt lợn.
Giáo sư về ung thư, Đại học Y khoa Johns Hopskins Scott Kern cho biết: “Chúng ta chưa biết nhiều về ảnh hưởng của các loại thực phẩm hàng ngày tới gen ung thư. Nhưng theo quy luật sinh tồn tự nhiên, các loại thực vật đều chứa các chất có hại cho người và động vật, ví dụ như xenlulozo trong thân cây, vị đắng trong lá chè hay hạt cà phê”.
Các loại thực phẩm được khuyến khích sử dụng qua nghiên cứu với mức độ kích hoạt gen p53 thấp là rượu Scotch whisky (có thể dùng thay thế hương liệu sản xuất thịt lợn), nước sốt cá hàu, nước sốt đậu nành, đậu đen, kim chi, đậu tương.
Các nhà khoa học vừa công bố nghiên cứu về mối liên hệ giữa các loại thực phẩm với khả năng kích hoạt gen ung thư trong cơ thể. Trà, cà phê và một loại hương liệu sử dụng trong ngành chế biến thịt lợn đứng đầu bảng danh sách này.
![]() |
| Ảnh minh họa |
Và kết quả thật đáng ngạc nhiên với 3 loại thực phẩm dẫn đầu đều là những thứ chúng ta sử dụng hàng ngày: Trà xanh (hoặc đen), cà phê và một loại hương liệu hóa học để sản xuất xúc xích, thịt xông khói, các loại đồ chay giả thịt lợn.
Giáo sư về ung thư, Đại học Y khoa Johns Hopskins Scott Kern cho biết: “Chúng ta chưa biết nhiều về ảnh hưởng của các loại thực phẩm hàng ngày tới gen ung thư. Nhưng theo quy luật sinh tồn tự nhiên, các loại thực vật đều chứa các chất có hại cho người và động vật, ví dụ như xenlulozo trong thân cây, vị đắng trong lá chè hay hạt cà phê”.
Các loại thực phẩm được khuyến khích sử dụng qua nghiên cứu với mức độ kích hoạt gen p53 thấp là rượu Scotch whisky (có thể dùng thay thế hương liệu sản xuất thịt lợn), nước sốt cá hàu, nước sốt đậu nành, đậu đen, kim chi, đậu tương.
ĂN CHAY GIÚP KÉO DÀI TUỔI THỌ
Theo một nghiên cứu mới được công bố trên tạp chí y tế JAMA (Hoa Kỳ), những người ăn chay có tuổi thọ kéo dài hơn những người ăn nhiều thịt.
Các nhà nghiên cứu đến từ California đã sử dụng một bảng các câu hỏi thực phẩm để đánh giá chế độ ăn uống của 73.300 người dựa trên 5 tiêu chí: không ăn chay, bán-ăn chay (ăn thịt hoặc cá không nhiều hơn 1 lần 1 tuần), ăn chay kèm theo ăn một số hải sản, ăn chay kèm theo một số sản phẩm từ động vật như trứng, sữa và những người không ăn bất kỳ một sản phẩm nào từ động vật.
Kết quả nghiên cứu sau 5 năm cho thấy, có khoảng 2.570 người chết và những người ăn chay có tỷ lệ tử vong thấp hơn những người ăn thịt 12%. Ngoài ra, nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, những người ăn chay sống lâu hơn, được giáo dục và tập luyện nhiều hơn, ít uống rượu bia và hút thuốc hơn so với những người ăn thịt. Tiến sĩ Michael Orlich, chuyên gia y tế đến từ Đại học Loma Linda cho biết: “Chế độ ăn chay có thể làm giảm nguy cơ tử vong do bệnh tim, bệnh thận hay bệnh tiểu đường”.
Nancy Copperman, một chuyên gia dinh dưỡng đến từ Great Neck (New York) cho biết, chất xơ trong chế độ ăn chay có khả năng kéo dài sự sống, không chỉ riêng hoa quả và rau mà các loại chất xơ có trong ngũ cốc nguyên hạt cũng có khả năng làm giảm các yếu tố gây hại cho sức khỏe.
![]() |
| Ảnh minh họa |
Kết quả nghiên cứu sau 5 năm cho thấy, có khoảng 2.570 người chết và những người ăn chay có tỷ lệ tử vong thấp hơn những người ăn thịt 12%. Ngoài ra, nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, những người ăn chay sống lâu hơn, được giáo dục và tập luyện nhiều hơn, ít uống rượu bia và hút thuốc hơn so với những người ăn thịt. Tiến sĩ Michael Orlich, chuyên gia y tế đến từ Đại học Loma Linda cho biết: “Chế độ ăn chay có thể làm giảm nguy cơ tử vong do bệnh tim, bệnh thận hay bệnh tiểu đường”.
Nancy Copperman, một chuyên gia dinh dưỡng đến từ Great Neck (New York) cho biết, chất xơ trong chế độ ăn chay có khả năng kéo dài sự sống, không chỉ riêng hoa quả và rau mà các loại chất xơ có trong ngũ cốc nguyên hạt cũng có khả năng làm giảm các yếu tố gây hại cho sức khỏe.
DẬY THÌ SỚM CÓ THỂ DO ĐỘT BIẾN GEN
Đột biến gen là nguyên nhân của một số trường hợp dậy thì sớm.
Khi một đứa trẻ bước vào thời kỳ dậy thì sớm hơn dự kiến, các bác sĩ thường không lý giải được căn nguyên tại sao. Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu vừa phát hiện ra một đột biến gen là nguyên nhân của một số trường hợp dậy thì sớm.
![]() |
| Ảnh minh họa |
Nhóm nghiên cứu đã phát hiện các đột biến của một gen có tên gọi MKRN3 ở 15 người thuộc 5 trong số các gia đình kể trên. Trong tất cả những trường hợp này, gen MKRN3 đột biến do người cha truyền lại.
Độ tuổi trung bình bắt đầu giai đoạn dậy thì đối với những người mang đột biến gen MKRN3 là 6 tuổi đối với nữ và 8 tuổi đối với nam.
Trong bài xã luận đi kèm báo cáo nghiên cứu, tiến sĩ Ieuan Hughes đến từ Đại học Cambridge (Anh) nhận định, mặc dù giới nghiên cứu hiện vẫn chưa biết chính xác MKRN3 giữ vai trò như thế nào đối với quá trình dậy thì nhưng nó có thể liên quan đến việc giải phóng "phanh hãm", thường vẫn ngăn cản sự khởi phát của quá trình này.
Quá trình dậy thì xảy ra khi bộ não bắt đầu sản sinh hàm lượng hormon giải phóng kích tố sinh dục cao hơn. Theo các nhà nghiên cứu, những đột biến ở gen MKRN3 có thể kích thích việc tăng hàm lượng hormon này ở một độ tuổi trẻ hơn bình thường.
Để tìm hiểu kỹ hơn về vai trò của gen MKRN3 đối với quá trình dậy thì, nhóm nghiên cứu đã xem xét bộ não của chuột. Họ nhận thấy, lượng gen MKRN3 cao nhất khi các con chuột còn nhỏ và sụt giảm khi những sinh vật này bước vào giai đoạn dậy thì. Phát hiện này cung cấp thêm bằng chứng gắn chặt gen MKRN3 với quá trình dậy thì nói chung ở động vật.
PHỤ NỮ HÚT THUỐC DỄ BỊ VIÊM KHỚP DẠNG THẤP
![]() |
| Ảnh minh họa |
Các nhà nghiên cứu tại Viện Karolinska và Bệnh viện Đại học Karolinska, Stockholm cho biết khi phân tích dữ liệu thu thập được từ 34.000 phụ nữ đang hút thuốc hoặc đã từng hút thuốc có độ tuổi từ 54-89 ở Thụy Điển thì có tới 219 người bị bệnh viêm khớp dạng thấp.
Viêm khớp dạng thấp là loại bệnh gây ra viêm ở các khớp, dẫn đến sưng, cứng, đau và giảm các chức năng ở khớp. Nó cũng gây ảnh hưởng xấu đến chức năng các cơ quan khác trong cơ thể. Phụ nữ hút từ 1-7 điếu thuốc mỗi ngày có nguy cơ mắc bệnh viêm khớp dạng thấp cao gấp đôi những người không hút thuốc.
Bỏ thuốc lá sớm có thể làm giảm nguy cơ mắc bệnh theo thời gian. Đối với những người đã bỏ hút thuốc được 15 năm, nguy cơ mắc bệnh giảm tới 1/3. Daniela Di Giuseppe, trưởng nhóm nghiên cứu khuyến cáo: “Để bảo vệ sức khỏe cũng như ngăn ngừa nguy cơ mắc bệnh viêm khớp dạng thấp, hãy bỏ thuốc lá càng sớm càng tốt, đặc biệt là phụ nữ”.
NHỊP TIM BẤT THƯỜNG TĂNG NGUY CƠ MẤT TRÍ NHỚ
Sức khỏe tim mạch là một yếu tố quan trọng liên quan đến sức khỏe não bộ.
Theo một nghiên cứu mới được công bố trên tạp chí Neurology(Hoa Kỳ) ngày 5/6, những người lớn tuổi có nhịp tim bất thường (còn gọi là bệnh rung tâm nhĩ) có nhiều khả năng mắc chứng suy giảm trí nhớ sớm hơn.
Theo một nghiên cứu mới được công bố trên tạp chí Neurology(Hoa Kỳ) ngày 5/6, những người lớn tuổi có nhịp tim bất thường (còn gọi là bệnh rung tâm nhĩ) có nhiều khả năng mắc chứng suy giảm trí nhớ sớm hơn.
![]() |
| Ảnh minh họa |
Để kiểm tra hiệu ứng rung nhĩ trong tư duy và bộ nhớ, các nhà nghiên cứu đến từ Đại học Alabama ở Birmingham đã thu thập dữ liệu của hơn 5.000 người từ 65 tuổi trở lên đang tham gia vào chương trình nghiên cứu sức khỏe tim mạch. Khi bắt đầu nghiên cứu, không ai trong số những người này mắc chứng rung nhĩ. Sau 7 năm theo dõi, hơn 550 người tham gia mắc chứng bệnh này. Trong thời gian nghiên cứu, tất cả những người tham gia đều phải làm một bài kiểm tra về “tư duy bộ nhớ” vào mỗi năm với số điểm tối đa 100 điểm.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, những người mắc chứng rung tâm nhĩ có điểm số thấp hơn trong các bài kiểm tra so với những người không mắc chứng bệnh này. Tiến sĩ Evan Thacker, trưởng nhóm nghiên cứu cho biết: “Người lớn tuổi thường mắc chứng suy giảm tinh thần và mất trí nhớ. Nghiên cứu của chúng tôi chỉ ra rằng tình trạng này bắt đầu sớm hơn và phát triển nhanh hơn ở những người bị rung tâm nhĩ. Điều này có nghĩa là sức khỏe tim mạch là một yếu tố quan trọng liên quan đến sức khỏe não bộ.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, những người mắc chứng rung tâm nhĩ có điểm số thấp hơn trong các bài kiểm tra so với những người không mắc chứng bệnh này. Tiến sĩ Evan Thacker, trưởng nhóm nghiên cứu cho biết: “Người lớn tuổi thường mắc chứng suy giảm tinh thần và mất trí nhớ. Nghiên cứu của chúng tôi chỉ ra rằng tình trạng này bắt đầu sớm hơn và phát triển nhanh hơn ở những người bị rung tâm nhĩ. Điều này có nghĩa là sức khỏe tim mạch là một yếu tố quan trọng liên quan đến sức khỏe não bộ.
Thứ Tư, 10 tháng 7, 2013
NGƯỜI BỆNH CẦN LƯU Ý GÌ?
Nhóm thuốc chẹn beta được dùng không chỉ trong điều trị tăng huyết áp mà còn dùng trong đau thắt ngực, rối loạn nhịp tim, suy tim. Việc chọn lựa thuốc thích hợp cho các bệnh này do thầy thuốc quyết định, song người bệnh cần hiều rõ các tác dụng phụ, tương tác của chúng để dùng đúng, tránh tai biến. Một số thuốc trong nhóm này như atenolol, metoprosol, bisoprolol, propranolol, narodol, timolol, carvediol, lebatol...
![]() |
| Ảnh minh họa |
Khi dùng nhóm thuốc này, một số tác dụng không mong muốn có thể xảy ra như gây ra hoặc làm nặng thêm suy tim, gây co thắt phế quản...
Cũng cần chú ý tới sự tương tác với các thuốc dùng đồng thời, trong đó có tương tác làm nặng thêm tác dụng phụ của thuốc. Đới với các thuốc hạ huyết áp khác, thuốc làm tăng hiệu lực hạ huyết áp, song cũng làm tăng tác dụng phụ của chẹn beta (làm chậm nhịp tim, tụt huyết áp mạnh, gây ra hoặc làm nặng thêm suy tim, gây block nhĩ - thất, còn có thể gây loạn nhịp tim). Mức tương tác cũng khác nhau. Với nhóm lợi niệu (thiazid) vẫn có thể phối hợp được, nhưng cần điều chỉnh liều; Nếu trước đó đã dùng lợi niệu thì phải ngừng lợi niệu vài ba ngày rồi mới dùng chẹn beta; Nếu muốn dùng cùng lúc thì phải khởi đầu chẹn beta liều thấp. Với nhóm chẹn canxi (bebridil, nifedipin, diltiazem, verapamil) tương tác ở mức nghiêm trọng, dẫn tới suy tim, tuyệt đối không phối hợp.
Khi dùng chung với thuốc chống loạn nhịp khác (như propafenon amiodaron, quinidin, disopyramid), chẹn beta làm tăng tính ức chế tim (gây rối loạn co bóp tim), tăng sự làm chậm dẫn truyền nhĩ thất lên quá mức (gây rối loạn dẫn truyền), hủy các tác dụng điều hòa tim mạch và điều hòa giao cảm làm mất tác dụng của các thuốc này.
Do có những tác dụng phụ và các tương tác trên, người bệnh cần tuân thủ tuyệt đối sự chỉ định của thầy thuốc, không tự ý chọn thuốc hay thay đổi thuốc. Thực hiện đúng lịch khám định kỳ, chấp hành sự điều chỉnh thuốc nếu có, dùng đúng liều, khởi đầu liều thấp rồi tăng dần đến liều hiệu lực, không tự ý tăng liều theo cảm giác chủ quan (liều cao không tăng hiệu lực mà tăng tác dụng phụ).
Việc dùng lâu dài cơ thể đã quen với trạng thái ức chế nên không ngừng thuốc đột ngột, vì ngừng đột ngột sẽ làm tăng chứng đau thắt ngực, nhồi máu cơ tim, loạn nhịp thất. Trong quá trình dùng thuốc, nếu thấy có biểu hiện suy tim thì báo ngay với thầy thuốc để được xử lý kịp thời. Khi đến phòng khám người bệnh cần mang theo y bạ để thầy thuốc nắm chắc tình trạng chung về thận, gan và có xử lý thích hợp.
RUỘT GAN TAN HOANG VÌ THUỐC
Hệ tiệu hóa là một "chặng đường dài", từ "đầu làng" là miệng cho tới "cuối phố" là hậu môn. Trên chặng đường đó còn có những ngõ ngách như ruột, bao tử... Tham gia vào quá trình tiêu hóa gồm có gan, mật, tụy... Trên đường đi từ "đầu làng đến "cuối phố" để giúp "thân chủ" thOÁT khỏi bệnh tật thì trớ trêu thay, dược phẩm lại có thể gây họa khôn lường.
Tan nát... "bộ đồ lòng"
Ngay khi mới bước vào cửa ngõ là thực quản thì thuốc men đã có thể sinh sự. Một số bệnh nhân mắc chứng khó nuốt (dysphagia) thì thuốc không chịu đi tiếp mà cứ ăn dầm nằm dề tại đó, thuốc sẽ giải phóng các hóa chất gây kích ức thực quản và làm hư hại lớp màng bảo vệ thực quản, sự kích ứng có thể gây ung loét, xuất huyết thực quản, làm hẹp thực quản, thủng thực quản... Tần suất rủi ro gây kích ứng thực quản của thuốc càng tăng ở những bệnh nhân có những chứng bệnh liên quan đến thực quản như: hẹp thực quản, xơ cứng thực quản, cơ thực quản hoạt động bất thường (achlasia), bệnh nhân đột quỵ...
Vài loại dược phẩm có thể gây ung loét thực quản khi chúng bị mắc kẹt tại thực quản. Những loại dược phẩm quen mặt bao gồm aspirin, các thuốc kháng sinh như: tetracycline, quinidine..., vitamin C và viên bổ sung sắt. Dấu hiệu để nhận biết thuốc gây chuyện ở thực quản là người bệnh cảm thấy đau khi nuốt thức ăn hoặc uống nước, cảm thấy có vật gì đó vướng lại trong cổ họng, cảm thấy đau ở ngực hay vai sau khi uống thuốc. Để tránh hoặc hạn chế rủi ro, khi uống thuốc nên uống ở tư thế thẳng đứng hay ngồi thẳng lưng, trước khi uống thuốc nên uống vài ngụm nước để "bôi trơn" cuống họng, khi uống thuốc phải uống nguyên cả ly nước đầy. Không nằm ngay sau khi vừa uống thuốc.
CẦN THƠ: XUẤT HIỆN DÒNG VI KHUẨN COLI KHÁNG THUỐC
BV Nhi đồng Cần Thơ còn nhiều bệnh nhi nhiễm E.coli kháng thuốc.
Thông tin từ Bệnh viện Nhi đồng Cần Thơ, ngày 3/6, nơi đây vừa có thêm 1 bệnh nhi tử vong do sốc nhiễm trùng đường tiêu hóa và xác định là vi khuẩn E.coli kháng thuốc gây ra. Bệnh nhi tử vong ngày 2/6 là cháu Đỗ Quốc Huy (8 tháng tuổi, ngụ tại quận Ô Môn, TP Cần Thơ), sau 3 ngày nhập viện. Đây là trường hợp thứ 2 tử vong tại Bệnh viện Nhi đồng Cần Thơ do vi khuẩn E.coli kháng thuốc gây ra trong vòng 10 ngày qua (sau cháu Võ Duy Khang, 1 tuổi, ngụ ấp Đông Thới, xã Đông Bình, huyện Thới Lai, TP Cần Thơ, tử vong ngày 24/5).
![]() |
| Vi khuẩn E.Coli |
Bệnh viện còn nhiều bệnh nhi nhiễm E.coli kháng thuốc. Trong đó có cháu Đặng Ngọc Huy (6 tháng tuổi) bị tiêu chảy và nhiễm trùng E.coli vừa vượt qua cơn nguy kịch. Bác sĩ Trần Văn Dễ, Phó Giám đốc Bệnh viện Nhi đồng Cần Thơ, khuyến cáo: “Bệnh nhi bị nhiễm vi khuẩn E.coli thường có các triệu chứng nóng sốt, ói mửa, tiêu chảy kéo dài và thường rơi vào các bé dưới 5 tuổi. Khi phát hiện những triệu chứng trên, phụ huynh nên nhanh chóng đưa con cháu đến bệnh viện để chữa trị kịp thời…”.
ĐÁ VIÊN TINH KHIẾT SẢN XUẤT TRÊN NỀN NHÀ BẨN
Đoàn kiểm tra liên ngành đã lập biên bản tạm đình chỉ sản xuất, kinh doanh của cơ sở.
Ngày 6/6, đoàn kiểm tra liên ngành vệ sinh an toàn thực phẩm TP Hà Nội kiểm tra đột xuất 2 cơ sở sản xuất đá viên, trong đó đình chỉ một cơ sở ở Trung Văn, Từ Liêm, vì không đảm bảo điều kiện vệ sinh.
![]() |
| Ảnh minh họa |
Tại thời điểm kiểm tra, cơ sở sản xuất đá sạch Ngọc Hường để nền xưởng nhớp nháp, túi nilon đóng bao gói đá thành phẩm đặt trên mặt ghế, chậu bụi bẩn, thậm chí rải cả dưới nền. Phòng ăn của công nhân được bố trí ngay trong nhà xưởng, quần áo treo lủng lẳng bên cạnh dây chuyền sản xuất bừa bộn, mất vệ sinh. Toàn bộ công nhân đang sản xuất, vận chuyển đá thành phẩm đều không có trang phục bảo hộ theo quy định. Xưởng được bố trí chung với kho hàng chứa dây nẹp, dây dán, khóa sắt… nhưng không có vách ngăn cách.
Chủ cơ sở vắng mặt nên chưa xuất trình được bất cứ giấy tờ liên quan. Theo nhân viên của cơ sở, nơi đây sử dụng nước giếng khoan để sản xuất đá viên. Nguồn nước sau khi được lọc thô qua lớp cát sẽ được đưa vào hệ thống máy lọc rồi mới đưa vào sản xuất đá viên.
Đoàn đã lập biên bản tạm đình chỉ sản xuất, kinh doanh của cơ sở. Đồng thời giao Thanh tra Sở, Phòng Y tế huyện và chính quyền địa phương tiếp tục làm việc với đại diện cơ sở và giám sát. Đoàn cũng lấy mẫu nguồn nước đầu ra và mẫu nước đá viên của cơ sở để kiểm nghiệm chất lượng.
Ông Nguyễn Khắc Hiền, Giám đốc Sở Y tế Hà Nội cho biết, vào hè nhu cầu sử dụng nước tinh khiết đóng chai, đá viên của người dân tăng cao. Vì vậy, Sở Y tế đã tổ chức các đoàn thanh kiểm tra hoạt động này. Sở cũng thông báo và chỉ đạo các quận/ huyện tăng cường hơn nữa hoạt động kiểm tra, giám sát các cơ sở sản xuất đá viên, nước đóng chai, xử lý dứt điểm các cơ sở sai phạm.
Cơ sở sản xuất đá viên tinh khiết Xa Phia, cũng ở Trung Văn, Từ Liêm, sạch sẽ hơn và đầy đủ giấy tờ đảm bảo công bố tiêu chuẩn. Tuy nhiên, cơ sở này có vị trí ngay mặt đường và cạnh một con kênh nước thải.
Theo thống kê, hiện Hà Nội có 69 cơ sở sản xuất đá sạch, nước tinh khiết được công bố tiêu chuẩn chất lượng và đảm bảo an toàn thực phẩm. Tuy nhiên, số cơ sở sản xuất mặt hàng này thường nhiều hơn và đa phần kinh doanh nhỏ lẻ theo hộ gia đình, nên việc giám sát hoạt động còn nhiều bất cập.
XÁC MINH THẠCH TÍN TRONG BIA ĐỨC
Trong 633 mẫu bia Đức, có 153 mẫu được phát hiện có thạch tín.
Trước thông tin báo chí trong nước và quốc tế cảnh báo bia Đức nhiễm thạch tín, ngày 6/6 Cục An toàn thực phẩm (Bộ Y tế) cho biết đang xác minh xem bia nhiễm thạch tín có nằm trong số hàng hóa đã lưu hành tại Việt Nam.
Theo Cục An toàn thực phẩm, Bộ Thực phẩm - nông nghiệp và bảo vệ người tiêu dùng của Đức cho biết từ năm 2000-2013, cơ quan này đã kiểm tra dư lượng các chất ô nhiễm trong 633 mẫu bia, trong đó có 153 mẫu được phát hiện có thạch tín.
Hầu hết các mẫu nhiễm thạch tín ở ngưỡng dưới mức cho phép trong pháp lệnh đồ uống của Đức, tuy nhiên có 3/153 mẫu hàm lượng thạch tín ở mức 13-18mg/l, cao hơn mức cho phép.
Chủ Nhật, 7 tháng 7, 2013
NHỮNG LOẠI THỰC PHẨM GÂY CHẾT NGƯỜI
Dị ứng thức ăn có thể gây chết người do nó gây ra phản ứng sốc phản vệ.
Theo Quỹ Hen và Dị ứng Mỹ thì ở Mỹ mỗi năm có hơn 200 người chết do các biến chứng liên quan đến dị ứng thức ăn.
1. Những thực phẩm gây dị ứng
Theo Quỹ Hen và Dị ứng Mỹ thì ở Mỹ mỗi năm có hơn 200 người chết do các biến chứng liên quan đến dị ứng thức ăn. Dị ứng thức ăn có thể gây chết người do nó gây ra một phản ứng có tên là sốc phản vệ, với các triệu chứng sưng nề lưỡi và họng, tụt huyết áp, khó thở, buồn nôn, nôn và/hoặc đau bụng. Các dị nguyên (chất gây dị ứng) thường gặp trong lạc, sữa, trứng, hải sản, đậu nành và lúa mì.
2. Những thực phẩm “cực đoan”
Đặc điểm của những loại thực phẩm này là có hàm lượng rất cao chất béo và các chất không tốt cho sức khoẻ. Ví dụ đồ ăn nhanh được phục vụ với suất lớn hoặc pha trộn nhiều loại thực phẩm khác nhau có thể làm tăng lượng cholesterol và gây ra những nguy cơ khác cho sức khỏe.
Cho dù ảnh hưởng có thể không xuất hiện ngay nhưng tác động của nó có thể xuất hiện sau đó, thậm chí là sau vài năm.
3. Những thực phẩm gây ngộ độc
Mỗi năm tại Hoa Kỳ có khoảng 150 người bị chết do ăn phải nấm độc mọc trong rừng. Điều này không có gì đáng ngạc nhiên vì theo Phó giáo sư Anne Pringle thuộc Đại học Harvard thì mới chỉ có 95% các loại nấm trên thế giới được định danh. Do đó bạn phải cảnh giác tránh xa những thực phẩm có thể đưa chất độc vào cơ thể, như hạt táo, chứa các hợp chất cyanid, khoai tây có vỏ xanh chứa độc tố solanin.
4. Những thực phẩm bị ô nhiễm
Để tránh bị bệnh qua đường ăn uống, bạn phải nắm được những thông tin cần thiết về cách bảo quản và chế biến thực phẩm. Salmonella và E. coli là những loại vi khuẩn thường nhiễm vào thức ăn.
Theo Trung tâm Phòng chống Bệnh Mỹ thì những vi khuẩn này gây ra 9.000 ca tử vong ở Mỹ mỗi năm. Salmonella là vi khuẩn cư trú ở gia cầm, bò sát và động vật có vú gây sốt, tiêu chảy và những ca bệnh nặng, trong khi nhiễm E. coli có thể đe doạ tính mạng.
CHỦNG VIRUS ĐANG TẤN CÔNG NHÓM NGƯỜI NGUY CƠ CAO
Bệnh cúm A(H1N1) lây lan trong cộng đồng và đối tượng dễ bị tử vong khi nhiễm cúm này thuộc nhóm nguy cơ cao.
Chỉ trong vòng một tháng, tại khu vực Nam Bộ đã xảy ra 3 trường hợp tử vong do cúm A(H1N1). Đáng nói, cả ba trường hợp tử vong do loại cúm này đều nằm ở những người có nguy cơ cao nhưng không xác định được nguồn lây.
Thậm chí, có trường hợp nhập viện trong tình trạng tỉnh táo nhưng lại tử vong nhanh chóng. Liệu loại virus trên có biến chủng và đối tượng nào dễ bị cúm A(H1N1) tấn công?
Người già, phụ nữ có thai là nạn nhân của cúm A(H1N1)
Như báo Lao Động đã đưa tin, một sản phụ (sinh 1989, quê Kon Tum) vừa sinh con sau 34 tuần mang thai bị nhiễm cúm A(H1N1) đang điều trị tại BV Chợ Rẫy đã bị tử vong vào ngày 5.6. Điều đáng nói, bệnh nhân này vừa sinh con tại BV Từ Dũ, sau đó phát hiện nhiễm cúm A(H1N1) và được chuyển đến BV Chợ Rẫy. Hiện tại, đứa con của sản phụ được chăm sóc đặc biệt tại BV Từ Dũ. Trung tâm Y tế dự phòng TP phối hợp với y tế dự phòng quận 9 đang khoanh vùng khử khuẩn tại nơi nạn nhân làm việc (làm công nhân tại Q.9, TPHCM) và sinh sống.
Thứ Tư, 3 tháng 7, 2013
THIẾU KALI DỄ BỊ VIÊM GAN
Theo Everyday Health, một nghiên cứu mới cho thấy có mối liên hệ giữa bệnh gan nhiễm mỡ không liên quan tới rượu bia (NAFLD) và hàm lượng kali thấp.
![]() |
| Khoai tây giàu kali |
Khảo sát ở 8.592 người, các nhà khoa học thuộc Đại học Y Shanghai Jiao-Tong (Trung Quốc) phát hiện ra rằng bệnh nhân NAFLD có hàm lượng kali thấp hơn đáng kể so với những người không có vấn đề về gan.
Một số nghiên cứu cho thấy thiếu kali - chất cần cho chức năng tế bào bình thường và cân bằng trao đổi chất - có thể góp phần dẫn tới những rối loạn trao đổi chất khác nhau, trong đó có việc kháng insulin, từ đó làm tăng nguy cơ bị NAFLD.
Đăng ký:
Nhận xét (Atom)





















